Chủ nhật, ngày 20 tháng năm năm 2012

KU ZING


hình ảnh mang tính minh họa

Cu là một loài chim. Chắc chắn là một loài chim.

Cu chỉ “gù” chứ không hót. Trời phú cho cu như vậy, chỉ “gù” thôi. Cũng như trời phú cho họa mi lảnh lót, còn chó lại gâu gâu.

Cu “gù” mãi thì cu chán. Nghe xung quanh, họa mi lảnh lót, chích chòe ríu ran, sẻ đồng ríu rít.v.v. cu thấy hay hay. Cu nghe một hồi rồi cu nghĩ “Tưởng gì, hót chỉ có thế thôi sao. Thế thì mình cũng hót được. Mà hót hay nữa là đằng khác”. Thế rồi cu hót.

Cu hót: “Pà pa các cu!” là la cúc cu!
Chích chòe bay qua hỏi: “Anh bị sao vậy?”
Tôi đang hót – Cu trả lời. Chích chòe chao cánh loạng choạng tý rơi. Cu nghĩ “Chích chòe ghen tị với tài năng của mình”.

Rồi cu lại hót: “Ồ ê, ồ ê các cu!” đồ rê, đồ rê cúc cu!
Sáo sậu bay qua hỏi: “Anh sao thế?”
Tôi đang hót – Cu trả lời. Sáo sậu chúi đầu suýt đâm xuống đất. Cu nghĩ “sáo sậu “sốc” vì tài năng của mình”.

Cu lại hót tiếp: “Ồ i, ồ i các cu!” đồ mi, đồ mi cúc cu!
Họa mi bay tới hỏi: “Anh làm gì thế?”
Tôi đang hót – Cu trả lời.
Họa mi tròn mắt ngạc nhiên: “Anh hót?”.
“Chứ sao. Thế anh tưởng tôi chỉ biết “gù” thôi à? Tôi biết tất. Kiểu gì tôi cũng hót được. Mà hay nữa là đằng khác.” – Cu cao giọng.
Họa mi tý ngất hỏi: “Anh làm lại tôi nghe xem nào”
Cu hót: “Ồ i, ồ i các cu!” đồ mi, đồ mi cúc cu!
“Anh thấy có hay không?” – Cu vênh mỏ hỏi.
Họa mi nén cười gật gù: “Lạ lắm! Lạ lắm!” – Nói đoạn phẹt ra một bãi rồi bay đi.
“Tài năng của mình đến họa mi còn phải khen nữa là” – Cu nghĩ vậy và lại “hót” tiếp. Cu cứ thế “hót” mãi, “hót” mãi, “hót” đến quên mất cả tiếng “gù” của mình khi nào không hay.

Sau này để phân biệt với loài cu “xịn” tức cu “gù” người ta gọi loại cu “đểu” kia là cu “hót”.@của bạn BIBÔ trên diendanvanhoathethao.net

LINH TINH TRÂU


Trâu: là một loài động vật ăn cỏ thuộc họ nhai lại. Trâu có hai loại: loại màu da xanh đen (trâu đen) và loại màu da sáng hồng (trâu trắng).Trâu trưởng thành nặng khoảng ba bốn trăm cân gì đấy. Trâu có hai sừng, bốn chân lại thêm cả xoáy.v.v.

Đại khái là thế. Thực ra câu chuyện sắp đề cập đây cũng chẳng có ý định đi sâu tìm hiểu về trâu. Việc đó đã có các nhà trâu học lo. Ai muốn tìm hiểu thì liên hệ tới họ. Còn bí quá thì điện thoại tới giáo sư Nguyễn Lân Hùng – người dẫn chương trình: Bạn của nhà nông trên VTV cũng được. Chắc sẽ có lời giải đáp thỏa đáng. Chuyện đây là những chuyện… linh tinh quanh con trâu. Nhớ đến đâu kể đến đó, chuyện nọ xọ chuyện kia, có khi lạc sang cả những chuyện đẩu đâu chẳng dính gì đến trâu cả.

“Con trâu là đầu cơ nghiệp” – đấy là các cụ xưa bảo thế. Còn hồi đi học thì được dậy rằng: “Trâu là người bạn thân thiết của nhà nông.v.v.” – đấy là SGK của nhà nước bảo thế. Đến bây giờ thì…chẳng biết nữa.

Sao lại không biết? Ờ thì là vì xưa nhà nông nuôi con trâu chủ yếu là lấy sức cày, sức kéo. Trâu dễ nuôi, ị nhiều phân để bón ruộng, lại cho nhiều thịt khi chủ cần.v.v. nhưng đấy là xưa thôi. Còn giờ về quê thì vẫn có trâu, có điều ít hẳn so với trước. Sao vậy? Đơn giản là cày kéo giờ đã có máy. Vừa nhanh, vừa khỏe khỏi phải vắt vắt với họ họ mỏi mồm. Phân á? Thôi khỏi. Phân hóa học đầy, vừa tiện lại vừa sạch. Mà quê mình giờ sắp lên phố rồi. Đất cát nhà cửa tăng ầm ầm. Tấc đất tấc vàng lấy đâu ra chỗ mà làm chuồng trâu! Rồi có làm được thì đâu ra đủ cỏ cho trâu ăn? Chẳng nhẽ lại đi siêu thị mua cỏ? Thế thì chơi bời quá, ngữ ấy phải là trâu nhà địa chủ mới hoặc trâu chọi Đồ Sơn mới cưng thế được.

Tóm lại cơ bản giờ trâu chẳng để làm gì trừ để….thịt. Mà thịt trâu cũng mới nổi gần đây thôi, chứ bì sao được so với thịt bò. Dân mình nhiều khi cũng lạ. Có những thứ xưa chẳng mấy khi vồ vập, chẳng qua ít tiền không mua được bò mới chuyển sang trâu. Thấy miếng thịt trâu còn nhấc lên nhấc xuống chê này chê nọ, giờ lại xô nhau vồ vập khen ngon. Người thực sự thích thì chẳng nói làm gì, nhưng đầy người không thích miệng vẫn khen bai bải. Chê gì? Chê cái giề? Tuổi gì mà đòi chê??? Ông đúng là chả biết cái đếch gì cả. Cái lý nó phải vậy. Thế nó mới ra ta đây là người sành điệu chứ. Ờ! Thế hả! Kể ra muốn sành điệu cũng gian nan thật.

Mốt đặc sản giờ cứ phải là thịt trâu. Trâu xào lá nồm, trâu nướng lò than, rồi lẩu trâu, giò trâu.v.v.đủ cả. Tết qua nhà bạn chơi lại được mời “Ông làm tý rượu với thịt trâu khô gác bếp nhé. Đặc sản đem tận từ Sơn La về đấy. Lấy tận bản hẳn hoi. Trâu thả rừng đấy”. Đặc gì. Năm ngoái trâu chết rét nhiều ăn không xuể thì làm khô gác bếp chứ đặc gì. Nhưng mà cái công vào tận bản đem về thì đúng là quý. Quý quá! Quý quá!


Nói cho công bằng thì trâu trước sau vẫn thế. Vẫn hiền lành chăm chỉ, vẫn nhẫn nại cần cù, vẫn là bạn tốt của nhà nông. Nhưng thời thế nó khác nên trâu bị bỏ rơi. “Có mới nới cũ” vốn là đặc tính của con người mà. Tuy vậy, ở những vùng xa, hẻo lánh thì trâu vẫn giúp người được nhiều việc, bởi vậy vẫn còn được con người yêu quý lắm. Yêu quý đến lúc… hết khó hết khăn. Yêu quý đến lúc có máy cày máy kéo thay trâu thì trâu được đem đi….thịt.

Thủa nhỏ, mỗi dịp hè được về quê là thích lắm. Quê rộng rãi và phóng khoáng chứ chẳng chật chội tý teo như khu nhà tập thể. Ở quê có nhiều điều mới lạ với trẻ con phố thị. Một trong những điều thích thú thủa đó là được đi chăn trâu. Cơ mà khổ, chăn trâu ở đây cũng chỉ là chăn…ké thôi chứ nhà làm gì có trâu để chăn. Sáng ngủ dậy, ăn quấy quá cho xong là tót ngay sang nhà hàng xóm hoặc ra nhà mấy đứa em có trâu theo chúng lùa trâu ra đồng ăn cỏ. Sướng lắm. Cái cảm giác cầm dây dắt trâu điều khiển chúng đi rất thú vị. Có lẽ là do mới lạ nên thích, nhưng thực ra nghĩ lại cảm giác thích chí lúc đó chủ yếu là do tâm lý mình bé tý mà điều khiển được con trâu to đùng. Mỗi khi "vắt, họ" điều khiển trâu rẽ phải rẽ trái hay dừng lại được theo ý khoái ghê cơ. Quay lại nhìn thằng em thấy mặt nó hớn hở khoái cũng chả kém. Nhưng không phải khoái vì điều khiển được con trâu. Nó quen rồi, chuyện hàng ngày. Mà là khoái bởi dạy được mình điều khiển con trâu của nó.

Quay lại chuyện phân gio bón ruộng. Thủa đó ở quê nhà ai cũng cần phân cả. Phân người (phân bắc) tốt thì ai cũng rõ, nhưng ít. Phân chuồng (phân gia cầm gia súc) cùng với phân xanh (lá cây, rong rêu, bèo.v.v. đem ủ hoại) là những loại phân chủ lực bón ruộng. Lúa khoai sẽ tốt tươi trĩu hạt, to củ nếu được bón nhiều phân. Sự thực là vậy chứ không phải "Xấu dây tốt củ" như sau này bọn phản động tuyên truyền đâu nhé. Vậy nên phân quý lắm. Nhà ai nuôi càng nhiều gia súc thì càng có nhiều phân bó ruộng. Nhẽ vậy nên chả có lý gì để con trâu nhà mình lại đi ị vung vít ở đâu đó. Nó phải ị ở nhà, trong chuồng phân nhà mình chứ không phải ở đâu khác. Mà một bãi phân trâu thì to bằng mấy bãi phân lợn. Lại càng có lý do để trâu phải ị ở nhà trước khi ra đồng. Đó là nghĩa vụ và trách nhiệm của nó. Cơ mà khổ. Mặc dù đã được rèn rồi, nhưng có phải lúc nào nó cũng ị được theo thời gian biểu vạch sẵn đâu. Vậy nên buổi sáng ra chuồng thả trâu mà không thấy bãi phân trâu theo quy định là ông chủ nhăn mặt. Nhăn không phải vì thối, mà chính là vì thấy thiếu cái mùi thối quen thuộc của bãi phân trâu nóng mà ông đợi. Nghĩa vụ của nhiều con trâu thời đó là phải… ị mỗi sáng trước khi ra khỏi chuồng. Phải ị! Không thể thoái thác trách nhiệm bởi bất cứ lý do nào được.


Có một lần tôi theo chú đi chăn trâu (Chú, nhưng chỉ bằng tuổi tôi thôi. Họ hàng mà). Hai chú cháu ra chuồng mở cửa dắt trâu ra. Chú Còm (Còm là tên gọi ở nhà) nhìn quanh không thấy bãi phân trâu như thường lệ. Chú cau mày. Thế này là không được rồi. Phải ị đã rồi mới đi. Còm vội “H.o.o..ọ” giữ trâu lại. Trâu ta hồn nhiên vẫy đuôi kéo dây đi ra. “Họ”! Đã bảo không mà lại. Làm bãi phân rồi mới đi được. Con trâu đứng lại, một lúc vẫn chẳng thấy gì cả. Đuôi vẫy, tai ve vẩy thế này là không muốn ị rồi. Phải cưỡng chế thôi. Nghĩ vậy Còm ta dắt trâu đến gí mũi nó vào bãi phân hôm trước bắt ngửi. Đứng một lúc, nhìn đít trâu mãi mà chẳng thấy động tĩnh gì cả. Xung quanh nồng nặc toàn mùi phân trâu hôi quá. Điệu này phải dùng biện pháp mạnh mới xong. Thế là Còm một tay giữ thừng gí mũi trâu vào sát bãi phân, tay kia dùng roi quật lia lịa vào người nó. Khổ cái thân trâu. Nó đứng nhẫn nhục không dám phản kháng gì, từ hai mắt nó nước chảy thành vệt dài. Rồi như nó hiểu ra cái lỗi của nó. Rồi...bụp..bụp...bụp....cuối cùng nó cũng cong đuôi ị ra được một bãi nóng hôi hổi. Xong. Còm ta nhìn bãi phân hỉ hả ra mặt nói: “Cứ phải đánh cho mới xong. Ị ít hơn hôm qua. Nhưng thôi cũng được. Giờ thì đi nào”.

Lại nói chuyện phân. Vẫn dính đến trâu. Đó là chuyện đi hót phân rơi phân vãi. Gọi là đi nhặt phân. Đại khái cứ gặp phân là hót tất, chẳng cứ phân trâu. Phân với nhà nông cần như thế nào thì đã nói rồi, không nói lại nữa. Trâu bò dê.v.v thả bãi ăn cỏ buồn là ị. Vẫn biết phân quý, nhưng chẳng lẽ vì mỗi bãi phân mà lại phải dong trâu về nhà? Người thì có khi còn cố nhịn về nhà mà ị chứ trâu bò nó cứ phẹt luôn ra bãi. Bởi vậy mới nảy sinh ra việc nhặt phân.

Người đi nhặt phân rơi thủng thẳng quang gánh hai cái thúng hoặc sảo có lót rơm và tro bếp bên dưới. Đồ nghề hót phân là đôi xương vè (xương sườn) trâu hoặc bò. Cái này rất ngộ. Phải là người khéo léo và có thâm niên lâu năm trong nghề nhặt phân mới dùng được chứ còn người mới vào nghề thì lúng túng lắm. Trông người có kinh nghiệm biết ngay. Họ thao tác nhanh như múa mà lại gọn gàng sạch sẽ. Với họ, chỉ hai, ba cái vét là gọn bãi. Xong phủ tro lên trên cho khỏi hôi. Sạch sẽ và gọn gàng. Còn người không có kinh nghiệm thì lung tung bung bét, phải trên chục vét mới xong. Đã thế lại còn lem nhem không sạch. Nói vui chứ nếu xếp hạng nghề như kiểu công nhân thì trình đấy chỉ đáng bậc 1 bậc 2 mới vào học việc. Tiến lên bậc 6 bậc 7 thì đã quá lành nghề. Nhoáng cái là xong. Còn loại ngoại hạng hết bậc vượt tới tầm chuyên gia thì thôi rồi. Khủng luôn! Các chuyên gia hót phân múa đôi vè trâu nhuần nhuyễn như kiếm khách đi bài song kiếm vậy. Bóng đôi vè trâu bay lượn cuốn lên lượn xuống loang loáng như ảo ảnh. Họ hót bãi cứt trâu té re chỉ với vài vét trong vòng mươi giây mà thôi. Ờ mà sao Kỷ lục Việt Nam lại không ghi nhận cái này nhỉ?! Vừa bảo tồn một nét văn hóa đang mất dần, mà lại độc đáo rất chi là Việt Nam




Thường thì trẻ con hay được bố mẹ giao đi chăn trâu tiện nhặt phân luôn thể. Đại khái là bọn con gái. Con gái chăm làm lại chịu khó chăn trâu cắt cỏ...hót phân. Chứ mấy đứa con trai thì chỉ nghịch là giỏi. Mong cho chúng tối đến dong trâu ăn no tắm mát về nhà, đồng thời không có người đến mách tội đã là mừng rồi. Người lớn thì lúc rảnh rang đồng áng cũng hay đi nhặt phân, cũng lại chỉ đàn bà. Đàn ông - có thể thấy họ gánh phân ra đồng trong vụ cày cấy, nhưng chưa thấy họ đi nhặt phân bao giờ.

Người nhặt phân rơi cứ lần theo dấu đường đi của đàn gia súc. Thủng thẳng quang gánh, gặp bãi thì hót, mệt thì nghỉ. Thoải mái tự do giữa đất trời. Thỉnh thoảng có người đi qua chào: “Bác đi đâu đấy!” “Vâng. Tôi tranh thủ đi nhặt ít phân cô ạ”, tiện thể hàn huyên thêm dăm ba câu chuyện làng xã, chuyện đồng áng thôn đội.v.v. Đại thể là vậy. Chuyện trò vui vẻ, chẳng ngượng ngập xấu hổ gì. Một việc bình thường như bao việc khác mà thôi. Bây giờ thì…có mà giấu biệt. Người ta ngại khi phải nói là đang làm những việc mà xã hội cho là thấp kém. Có buộc phải nói thì cũng ngượng ngịu nói đại khái thoáng qua. Ấy nhưng nếu có tý danh vọng thành đạt hoặc nghề ngỗng có giá một tý thì lại khác hẳn. Thường sẽ rất thích khi được người khác hỏi về mình. Khi đó, họ cũng nói lướt qua thôi, giọng cố tỏ ra bình thản nhưng trong lòng thì âm ỉ sướng. Đấy là chưa kể tới một số chẳng phải ít rất khoái nói về bản thân. Loại này thì cứ vào chuyện một tí là loanh quanh lại dẫn dắt câu chuyện về mình. Thế rồi thao thao bất tuyệt độc thoại luôn. Mà chuyện nào có hay, nhiều khi còn…thối hơn cả cứt.

Thôi. Phân gio bỏ lại phía sau. Giờ lan man sang chuyện khác. Cưỡi trâu.

Tất nhiên chăn trâu là phải cưỡi rồi. Chăn trâu mà không cưỡi trâu thì chán chết. Dong con trâu ra khỏi chuồng là hai chú cháu nhảy ngay lên lưng trâu nghễu nghệ cưỡi ra ngõ. Tới con đường chung của làng đã thấy lốc nhốc mấy đứa trong xóm cũng đang dong trâu đi chăn rồi. Thế là nhập hội luôn. (Cưỡi trâu quen rồi thì dễ, chứ hồi đầu trèo được lên lưng trâu khó phết. Người thì thấp bé, con trâu lại to lớn kềnh càng, trầy trật mãi mới leo lên được. Đã thế cái xương sống của trâu gồ cao, làm mỗi lần nó bước, người mới cưỡi cứ trẹo hết bên nọ sang bên kia chực ngã. Mà cái giống mới cưỡi thì thường là ham, cứ ngồi mãi trên lưng trâu không xuống. Tối về ê háng đau mông phải biết. Đi đứng khệnh khà khệnh khạng y như thằng kim la.)

Cả lũ dong trâu ra bãi tha ma cuối làng. Bãi tha ma rộng, núp xúp gò đống mồ mả lại nhiều cỏ cho trâu ăn. Thả trâu ở đây là nhất. Trâu có cỏ ăn, còn bọn trẻ con tụ tập chơi đủ các trò. Trò chơi của bọn trẻ trâu thì đủ loại. Từ chia phe đánh trận giả đến đào hang hun chuột, bắt cua tát cá, bắt châu chấu cho nó đánh nhau (Trò này khá ngộ, có dịp sẽ nói kỹ hơn trong bài châu chấu cào cào) chán thì nướng ăn.v.v. Trâu bò tụ lại thành đàn nhẩn nha gậm cỏ. Nói chung là thanh bình, chỉ đôi khi mới xảy ra chuyện trâu bò húc nhau. Khi ấy thì náo loạn. Bọn trẻ con vừa thích lại vừa sợ. Chúng xúm quanh hò reo phấn khích. Duy chỉ có hai đứa là không thích tý nào, đấy là hai đứa chủ trâu đang húc nhau. Chúng tìm cách xáp vào bọn trâu đang chọi, túm dây kéo hai con rời khỏi nhau. Trông ghê răng. Nhưng hồi đó trẻ con ngu dại chẳng biết sợ là gì. Đại khái là cũng có lần tách được. Nhưng cũng có lần chúng chọi hăng quá thì chịu. Sợ nhất là khi có một con thua. Nó tế lên chạy trốn, đằng sau con thắng cuộc hăng máu lồng theo. Lúc đó chạy té tát. Không nhanh nó húc phải thì có mà lòi ruột.
 
 
Nói chuyện trâu tế. Nhớ lại xưa có lần xuýt mất mạng vì trâu. Ấy là cái đận chơi mãi các trò rồi cũng chán, cả lũ mới ngồi nghĩ ra trò đua trâu. Mà phải là đua đôi, cứ hai thằng ngồi một trâu mà đua. Hai chú cháu cưỡi chung một con trâu đua với bọn xóm ngoài. Bọn trâu thường ngày ù lì thế mà khi đua cũng khiếp ra phết. Nó tế mà như ngựa phi. Chạy một đoạn thì vượt lên được trước. Hai đứa xóm ngoài loi choi bám sát ngay sau. Còm ta quay lại bảo: “Mày ôm chắc lấy chú nhé” rồi ráo riết quất trâu tế vóng lên. Mịa! Cưỡi trâu bình thường thong dong gặm cỏ dễ thế mà sao lúc nó chạy lại khó vậy. Ngồi trên lưng con trâu đang lồng lên huỳnh huỵch mà chỉ trực ngã, người cứ dẹo hết bên nọ sang bên kia theo mỗi nhịp lồng. Thế rồi người cứ trượt dần, trượt dần sang một bên. Tình hình nguy cấp lắm, vội bảo: “Sắp ngã rồi chú ạ!” “Cứ ôm chặt lấy tao!” – Còm ta say máu nói, tay không ngừng quất trâu. Thì vẫn ôm đấy chứ. Không ôm có mà lộn cổ xuống ngay từ khi mới chạy rồi. Hai chú cháu cứ xệ dần sang một bên. Thế rồi trượt khỏi lưng trâu. Chỉ nghe một tiếng “Ho.o...ọ..” rồi chẳng biết gì nữa. Choáng váng. Mở mắt ra thấy mình nằm rệ cỏ, tý nữa thì lăn xuống mương. Bên cạnh, chú trâu đang phì phò thở dốc. Xa xa hai đứa xóm ngoài nhấp nhô trên lưng trâu cười đắc thắng. Người đau ê ẩm, trớt ít da tay, rách toang cái áo. May mà ngã ra ngoài, đúng vệ cỏ không sao chứ ngã vào trong thì có khi đã bị trâu sau giẫm cho thủng bụng. Hú vía!

Cũng tai nạn về trâu, có một chuyện khá là ngộ nghĩnh. Đó là lần cả lũ bốn đứa loi nhoi cưỡi lên một con trâu đang gặm cỏ. Ngồi díu với nhau một vệt từ sát mông tới gần u vai trâu. Trâu thì cứ đủng đỉnh gặm cỏ, bốn đứa thì chí chóe trêu nhau. Bình thường như thế thì cũng chẳng xảy ra chuyện gì. Nhưng mà khổ, đột nhiên con trâu nó bị khụy chân. Thế mới ra chuyện. Đang nhẩn nha gặm cỏ ria đê, chẳng hiểu là do giẫm phải hố hay thế nào đó mà trâu ta đột ngột bị khụy chân trước. Tất nhiên là nó lấy lại được thăng bằng ngay, rồi lại ung dung gặm cỏ như chẳng có chuyện gì. Bốn đứa trẻ ranh nhẹ như cái dải thì làm sao đủ sức nặng mà làm nó khụy hẳn xuống được.Chỉ có điều cái khụy chân thoáng qua ấy nó làm cho bốn đứa ngã lộn cổ xuống vệ đê. Nguy hiểm nhất là lại ngồi trên, nên ngã lộn ngay qua đầu trâu. May mà không dính cái sừng trâu vào bụng. Nghĩ lại hãy còn kinh.

Chuyện về trâu thì nhiều. Chẳng hạn như đi tắm trâu, cưỡi trâu bơi cũng hay. Có một lần cách đây độ ba năm. Lúc từ Sơn Tây về rẽ qua hồ Đồng Mô chơi. Hồ cạn nước lộ nhiều bãi nổi. Chiều tà, nắng như hắt vàng xuống lòng hồ. Đứng trên đê bao nhìn xa xa mấy chú mục đồng đang dong trâu bơi trên hồ rất đẹp. Những sóng nước hình rẻ quạt lan tỏa nhấp nhô sau vệt trâu bơi lấp lánh như được thếp vàng.

Xin kể một câu chuyện cũng lại về trâu thay cho phần kết. Đó là chuyện trâu ở Điện Biên. Năm 2002 Có một chương trình “Du khảo văn hóa xuyên Việt” tên là “Qua miền Tây bắc”. Đại loại là chương trình mời các nhà văn hóa nổi tiếng có tên tuổi, phóng viên báo đài của nhiều tờ báo lớn có uy tín trong cả nước tham gia một cuộc hành trình dài rong ruổi khắp vùng Tây bắc. Vừa đi chơi, vừa khảo cứu văn hóa của các tộc người trên dọc đường đi. Chuyến đi được tổ chức quy mô và rầm rộ với gần hai chục xe ôtô và trên trăm khách mời. Toàn những người đáng kính cả. Suốt cuộc hành trình, tối nào cũng có 5-7 phút tường thuật trong chương trình thời sự của VTV. Ở Điện Biên, cả đoàn nghỉ chân tại khách sạn Mường Thanh – Khách sạn lớn nhất thành phố. Chuyện nghỉ ngơi thì cũng chẳng có gì đáng nói. Bình thường. Có một điều đặc biệt của khách sạn Mường Thanh khác so với các khách sạn khác là chìa khóa của từng phòng đều có treo một cái…mõ trâu (Ai đi miền núi đều biết trâu trên đó mỗi con đều đeo dưới cổ một chiếc mõ là bằng tre. Khi trâu di chuyển hay gặm cỏ thì mõ trâu kêu lốc cốc nghe rất vui tai. Mục đích chính của nó là giúp người chủ dễ định vị được chỗ trâu ở đâu trong rừng núi bạt ngàn mà tìm). Tất nhiên, cái mõ trâu treo móc chìa khóa phòng thì không to như cái mõ trâu thật, mà làm nhỏ nhỏ xinh xinh thôi. Lắc lên thì cũng có tiếng kêu nghe vui vui. Trông đẹp, lạ mắt và độc đáo. Nhiều người trong đoàn thích lắm. Hội thảo, thăm thú ở Điện Biên xong, đoàn lên đường đi tiếp sang Sa Pa. Lúc ra xe, mới thấy rằng có khá nhiều trâu khoác máy ảnh, đeo mõ toòng teng trên cổ. Nghe đâu sau đợt đó khách sạn phải có thêm quy định “Đề nghị không lấy mõ trâu móc chìa khóa phòng”.@ vẫn của bạn BIBÔ trên diendanvanhoathethao.net

TẢN MẠN CHÓ.



Về quê, cả. Chó chạy rông hàng đàn. Ngõ đầy cứt chó. Nói chung là rất hãi. Hãi giẫm phải cứt chó thì ít mà hãi chó cắn thì nhiều.

Người làng người nước quen rồi thì cchó nhiều vô thiên lủng. Nhà ít thì 1, thường thì đều 2, 3 con trở lên hẳng nói, chứ như người lạ đi qua thì… phải biết. Ngõ đang vắng, khách lạ đi vào, chú chó đầu tiên trông thấy, gầm gừ rồi sủa váng lên. Lập tức không biết từ đâu, hàng chục con nhao ra tắp lự. Mực , vàng, khoang, đốm, to, nhỏ, choai choai.v.v. nhâu nhâu sủa điếc tai. Mắt vằn, mõm nhăn, răng nhe trắng nhởn xông tới. Người có kinh nghiệm thì cứ bình tĩnh vừa đi vừa nẹt, còn không thì hồn vía lên mây, ba chân bốn cẳng chuồn cho nhanh. Ác cái càng sợ, càng chạy thì chó càng đuổi tợn. Kinh hơn nữa là vào đến giữa ngõ mà bị chó quây là ăn đủ. Có mà chạy đằng trời. Vô phúc gặp phải mấy chú chó lai to như con bê hồng hộc lao ra nữa thì ôi thôi…khóc ra tiếng Mán. Sợ vãi cả ra quần.

Đấy đó là chó lạ, còn chó nhà thì khác. Nuôi từ bé, quấn quít với chủ. Biết buồn, biết vui, biết sợ, biết nịnh.v.v. đủ cả. Đại khái là trong tất cả cái lũ vật nuôi thì chó là giống có tình nhất. Cảm xúc chó chân thực bản năng và ngu muội. Chó phục tùng ông chủ như con nhang thành kính thánh thần. So với lợn ngu đần thì chó hơn xa. Ấy vậy mà khi oánh chửi nhau thường vẫn hay chửi: Thằng (con) chó (lợn) này! Kể cũng tủi cho chó khi bị xếp ngang hàng với lợn.

Chó trung thành và tin cẩn vậy, nhưng khổ cái thịt chó lại ngon, hợp với rượu quê cuốc lủi. Mà tình người cũng bạc. Về quê giờ phổ thông là được mời ăn cỗ chó. Liên hoan – chó. Giỗ chạp – chó. Cưới – chó.v.v. đại khái cái gì cũng chó cả. Nhà nuôi vài con, đợi dăm tháng ước chừng 5, 7 cân là thịt. Thường thì thịt vào dịp nhà có việc, mà không thì cũng chẳng sao. Mưa buồn, ngồi uống rượu suông, thấy con chó lượn qua, tự dưng ngửi thấy mùi chả nướng thơm lựng, bát xáo, đĩa hấp, đĩa dồi nóng hôi hổi….nước miếng ứa đầy chân răng. Thế là thịt, chó ơi.

Gọi thêm đôi người nữa đến. Cái gì? Chó à? Đến ngay! Đến ngay! Ai cũng vui cả. Chó mà.



Lấy bát cơm nguội, tắc lưỡi mấy cái, thế là chó sán đến. Lúc đó trông chúng mới hạnh phúc làm sao, mắt sáng long lanh với cái nhìn đầy biết ơn, đuôi ve vẩy vẫy mừng rỡ lắm. Ngu thậm. Chúi mũi vào bát cơm hẩm chúng đâu biết rằng hiểm họa đang rình rập trong lốt nhân từ. Ông chủ ngồi bên, tay vuốt nhẹ lưng nó đầy vẻ quan tâm làm đuôi nó cứ vẫy tít lên, tay kia khéo léo lựa đưa thòng lọng vào cổ nó trong những tia nhìn hau háu đến nín thở của nhóm người xung quanh. Chợt: Oẳng! Thòng lọng thít vào, nó ngã vật ra mà chẳng hiểu gì cả, miếng cơm ngột ngạt trong cuống họng. Hai ba người nữa xông đến khóa mõm túm chân. Mọi việc diễn ra rất nhanh, chỉ trong tíc tắc.

Mọi thứ chao đảo quay cuồng, xung quanh láo nháo tiếng người, loáng thoáng vài khuôn mặt lướt qua, nghẹt thở và đau điếng. Thế là nó đã bị trói gô lại. Giờ nó đang nằm cạnh bát cơm vung vãi, hai chân sau bị trói chặt, hai chân trước bị bẻ gập cánh khuỷu trói sau lưng, mõm bị khóa bởi dây thừng mấy lượt. Mọi người hối hả hò nhau đi đun nước, chuẩn bị rơm thui, ra sau nhà đào riềng, chạy quanh xóm xin tý mẻ.v.v. Có ai đó bấm tay vào lườn nó nói: “Con này chắc gớm, đúng tầm đây. Làm tí tiết canh các bác nhỉ?” “tất nhiên rồi” – mọi người ồ lên.

Nó sợ, nó rất sợ. Người nó run lên từng đợt. Nó cố ghìm nỗi sợ hãi lại nhưng không được, những đợt sóng sợ hãi chạy rùng rùng khắp cả thân mình. Nó cố quẫy mình vùng vẫy, nó rên lên ư ử, nó đưa ánh mắt hoảng loạn cầu cứu khắp nơi, nhưng chẳng ai để ý đến nó. Mọi người đang vui, đang bận rộn với rơm với riềng với mẻ. Ai cũng hể hả, chỉ mình nó sợ mà thôi. Ngoài bể nước đầu hè có tiếng mài dao quèn quẹt vọng vào.



Thế rồi có ai đó túm lấy chân nó nhấc bổng lên. Xương bả vai nó quay ngược tưởng như muốn đứt rời ra đau đớn. Nó giãy, nó kêu, âm thanh tắc ngẹn trong cuống họng. Nhưng càng giãy càng kêu lại càng đau. Chưa bao giờ nó đau đến vậy. Rồi nó bị ném phịch xuống đầu hè. Choáng váng và sợ hãi quây xiết nó. Sao lại thế này? Sao lại thế này? Nó không hiểu. Trước đây ít phút còn đang vui vẻ lắm cơ mà!!!?

Có tiếng ồn ào ngay sát bên. Tiếng cười nói, tiếng thậm thịch chày cối, tiếng bát va loảng xoảng và mùi giềng lan tỏa hăng hăng. Nó he hé mắt nhìn. Xung quanh, hai ba người đang ngồi nhìn nó. Nó hoảng, nó lại quẫy đạp giãy giụa trốn chạy. Nhưng ô hay hình như mọi người đang cười. Mà đúng là đang cười thật. Có cái gì đó quen quen. Nó bình tâm lại một chút. Tưởng ai, toàn là người quen cả. Chú Ninh, bác Cả người ngõ trên chứ ai. Lại cả cu Tý nữa này. Toàn người quen cả. Chú Ninh, bác Cả vẫn thường sang chơi, thường vỗ lưng, xoa đầu khen nó nhanh nhẹn và mau lớn. Còn cu Tý thì nó vẫn theo chân đi bắn chim suốt. Mọi người đang nhìn nó cười cười.

Nó mừng, nó mừng quá. Nó rên lên ư ử, nó vẫy đuôi rối rít lết đến. Chắc có hiểu lầm gì đây, mọi người sẽ cứu nó. Nó là con chó ngoan và trung thành cơ mà! Chú Ninh đang khuấy thìa lanh canh trong cái bát nhôm, cu Tý quần đùi chân đất háo hức ngồi bên cạnh. Bác Cả nhìn sang nói: “Chế cẩn thận kẻo tý hãm không đông” “Rồi. Bác yên tâm đi. Món tủ của em mà. Đảm bảo là đông xắn xặn”. Nó đạp chân lết lại gần, dũi mõm vào chân bác Cả cầu cứu. Bác Cả đưa tay xoa đầu nó gọi: “cu Tý lại đây”. Nó mừng quá, bác Cả gọi cu Tý lại để cứu nó đây. Có thế chứ. Có thế chứ. Bác Cả thật là người tốt. Mặt mũi bác hiền hậu thế cơ mà. Nó nhớ bác hay mặc bộ quần áo nâu, hay cho cu Tý oản với chuối. Hình như bác giữ từ ở đình làng, cạnh chùa. Mà người quét dọn đèn nước hầu hạ cho thánh thần, lại ở ngay gần cửa Phật ắt hẳn là có lòng từ bi. Nó dũi cái mũi ẩm ướt vào bác Cả, ngoáy tít cái đuôi và rên to lên với lòng biết ơn.



“Tẹo nữa giữ cho bác hai cái chân sau. Chắc vào đấy!” bác Cả nói với cu Tý. Rồi bác lại đưa tay xoa đầu nó. Đuôi nó vẫy càng mạnh, mắt nó ngân ngấn chứa chan. Bất chợt nó bị túm cổ lôi ra sát đầu hè. Nó đau điếng, rít lên hoảng hốt. Đầu nó nhô ra, lòng sân gạch bát đỏ tía như hắt máu. Bác Cả lại xoa đầu nó cười cười. Nó bình tâm trở lại. Bác Cả cười cơ mà. Chắc là bác trêu nó tý thôi. Nhưng đau quá. Nó lại vẫy đuôi vẫy rối rít mong chờ. Nó nghĩ: sắp được cởi trói rồi đây. Bác Cả quay sang cu Tý: “ Tý! Giữ thật chắc hai chân cho bác”. Chân nó chợt bị đè siết đau nhói, cổ nó bị túm chặt, đè gí đến nghẹt thở. Nó hoảng, nhưng rồi lại nghĩ: trói chặt thế thì tháo ra chắc cũng phải chịu đau đớn một chút mới xong. Hiểu lầm mà! Hiểu lầm mà! Nó lại vẫy đuôi, lại tưởng tượng sắp được tung tăng ủng oẳng nô đùa bên những người mà nó yêu nó quý.

Chợt nó thấy nhói ở cổ. Nhói! Nhói! Nhói!... Mắt nó hoa lên, mờ mịt chỉ thấy những túm lông bay tơi tả. Nó muốn kêu, nhưng không được. Cổ họng nó bị đè nghẹt ứ bởi một bàn tay cứng hơn thép. Ẩn hiện qua đám lông bay bay nó thấy bác Cả đang cười, khuôn mặt bác thật hiền hậu và mãn nguyện. Tiếng cười cứ dài ra, dài mãi ra, khùng khục và gầm gừ. Nó sợ, nó hoảng, nó giãy giụa. Nó kêu lên bấn loạn, những tiếng kêu ngắc ngứ tắc sâu trong cuống họng. Rồi chợt trong cái đầu u minh của nó lóe lên. Nó hiểu ra, nó nổi điên. Những người thân thiết đối xử với nó thế này sao? Thế sao??? Nó đã làm cái gì sai? Làm cái gì sai? Đầu nó ù đi mộng mị, bên tai nó những tiếng cười gầm gừ cứ loang mãi ra. Nó muốn cào cấu cắn xé, nó muốn giải thoát. Nó vùng vẫy, nó quẫy đạp, muốn cắn xé mọi thứ nhưng bất lực. Chân nó bị trói, mõm bị khóa chặt, bóp nghẹt . Tiếng tru lên căm hờn của nó rốt cuộc lại biến thành tiếng rên ư ử yếu ớt. Lùng bùng bên tai nó nghe thấy tiếng bác Cả quát: “ Tý! Giữ chặt vào. Giữ chặt vào! Cẩn thận đừng để tuột. Kìa! Kìa! Ninh đâu. Vào giữ thay cho thằng Tý kẻo sểnh”. Người nó tức khắc bị siết chặt, cứng ngắc. Cu Tý ngồi sang bên, trán lấm tấm mồ hôi với tay lấy đoạn củi gõ vào đầu nó hổn hển: “Con chó này…khỏe thật!”.


Nó bất lực, bất lực thật sự. Mắt nó hoa lên hoảng loạn. Từng mảng lông bị giật ra đau đớn, nghẹt thở không thể cựa được. Từ khóe mép, dòng dớt dãi nhểu lòng ròng xuống đất trong tiếng rên tuyệt vọng. Chợt thấp thoáng qua ống quần nâu bác Cả, ông chủ nó đang đi lại. Tia hy vọng lóe lên. Nó cố gắng gào to cầu cứu. Ông chủ nó thì khác. Ông chủ nó sẽ khác chứ không như đám người này. Ông chủ nó nhân từ. Nó biết, nó biết mà. Ông chủ nuôi nó từ nhỏ. Ông chủ yêu nó lắm. Nó biết mà. Những con chó khác cùng lứa với nó bị bán đi, còn nó thì không. Nó được giữ lại nuôi. Đó chẳng phải là ông chủ yêu nó sao! Lại nữa. Khi nó bị ghẻ khắp người, bị lũ ve hút mọng máu thì cũng chính ông chủ nó bắt ve, bôi thuốc, tắm táp chữa cho nó khỏi bệnh. Đấy chẳng phải là ông chủ yêu quý nó là gì?? Lại nữa. Khi xưa có lần nó lang thang ra xóm ngoài chơi bị bọn người ngoài đó lùa đánh què chân. Lê lết mãi mới chạy được về nhà với cái chân sưng u lủng lẳng, thì cũng chính ông chủ nó xoa bóp bó chân cho nó. Nó còn nhớ rõ ông chủ nó ngồi bên vừa vuốt lưng, nắn chân cho nó vừa nựng nó với giọng đầy thương cảm vừa lẩm bẩm chửi rủa: “Đ.m cái thằng nào đánh chó nhà ông. Ông mà biết ông đập cho vỡ mặt”. Nó cảm động lắm. Nó rên ư ử rồi thè lưỡi liếm tay ông chủ với đầy lòng biết ơn. Đấy chẳng phải là ông chủ rất yêu nó đúng không? Còn bằng chứng nào có thể hơn thế nữa??? Bởi thế nó cũng yêu quý ông chủ lắm lắm. Ông chủ đang đến. Ông chủ nhất định sẽ cứu nó. Nó biết, nó biết mà. Nó tin chắc là như vậy. Đuôi nó lại vẫy lên đầy hy vọng.


Có vệt sáng loáng qua mắt nó. Dao. Ông chủ nó cầm một con dao trên tay, lưỡi dao sắc lẻm. Vệt sáng loáng qua mắt nó vừa xong là do phần sáng lưỡi dao loáng phản vào. Ồ đúng! Ông chủ sẽ cắt dây trói cứu nó. Đích thị là như vậy rồi. Nó rên lên mừng rỡ. “Lâu không dùng, cùn quá. Mài mãi mới xong” – ông chủ nó nói. Chú Ninh hỏi: “ Anh Tuất (tên ông chủ nó) xong cả rồi. Làm thôi anh nhỉ?”. Bác Cả vội bảo: “Hượm đã. Quét đám lông đi kẻo nó bay vào bát hãm. Bẩn”.

Ông chủ Tuất ngồi xuống, đặt con dao sắc lẻm sang bên, thong thả xắn tay áo. Sống dao lạnh ngắt chạm vào mũi nó tanh tanh. Đuôi nó vẫy tít mong chờ. Cắt dây luôn đi, cắt dây luôn đi chứ còn phải xắn tay áo làm gì – nó rên lên thúc giục. Như đọc được ý nghĩ của nó, ông chủ Tuất cúi xuống đưa tay vỗ nhè nhẹ lên đầu nó cười cười. Nó mừng điên, oằn mình cố gắng ngóc đầu dũi cái mũi ươn ướt vào tay ông chủ tỏ lòng biết ơn. Thế chứ! Thế chứ! Thế mới đúng là ông chủ của nó. Chỉ tiếc là chân đang bị trói, mõm bị khóa, không thì nó sẽ nhảy cẫng lên mà liếm tay liếm chân ông chủ nó cho tỏ rõ lòng thành kính.

Bác Cả kéo đầu nó nhô ra khỏi mép hè, lòng sân gạch bát hiện ra đỏ bầm. Chú Ninh nhanh nhẹn đẩy cái bát nhôm sóng sánh nước vào ngay dưới cổ nó. Qua làn nước phản chiếu lấp lóa trong bát nó nhìn thấy một vạt da cổ bị vặt trụi lông ứa máu, thấp thoáng trong đáy bát ba bốn khuôn mặt đang nhìn nó cười cười. Nỗi sợ hãi lại bùng lên làm người nó run rẩy. Ông chủ tay cầm dao, tay vỗ vỗ vào đầu nó như muốn bảo “Mực à. Có tao ở đây mày yên tâm đi”. Thế chứ. Thế chứ, thế mới đúng là ông chủ của nó chứ. Nó lại yên tâm vẫy tít cái đuôi rồi rên lên ư ử. Tay dao ông lướt qua mũi nó lạnh và tanh. Nó nghĩ: chắc ông cắt dây cởi trói khóa mõm cho nó trước. Mau mau lên, nó đang ê ẩm hết cả hàm đây này.



Đầu nó đột ngột bị siết chặt và chợt thấy nhói mát ở vùng da cổ. Nó rít lên thảng thốt, cố gắng ngoái nhìn ông chủ mà không được. Nó vẫy đuôi rối rít cầu cứu. Loáng thoáng bên tai tiếng bác Cả sang sảng: “Từ từ thôi. Đừng cắt sâu vội kẻo đứt mạch thâm là hỏng bát hãm. Lần tìm cái mạch hồng ấy.” Tiếng chú Ninh gấp gáp: “Cu Tý! Đi lấy cho chú cái đũa. Mau lên”. Nó hoảng sợ gồng mình giãy giũa. Rồi nó nhìn thấy gương mắt ông chủ nó hiện ra lấp lóa dưới bóng nước trong cái bát nhôm, cạnh gương mặt bác Cả, chú Ninh. Tất cả đang cười cười nhìn nó đầy bí hiểm.

Nó rùng mình. Nó ngờ ngợ. Có cái gì nóng ấm đang rỉ ra nơi cổ… Tong! Một giọt máu đỏ thắm rơi xuống loang hồng trong nước...

Tong! Máu đỏ lênh loang khắp bát. Bóng những gương mặt ông chủ nó, bác Cả, chú Ninh với nụ cười bí hiểm chợt biến dạng, méo mó mờ ảo. Một cảm giác lạnh lẽo lan khắp thân thể làm nó run lên rùng rùng.

Tong! Tong! Những gương mặt méo mó xô đẩy vặn vẹo theo từng nhịp rỏ.

Tong! Những cặp mắt thô lố xô lại, lồi ra vằn máu nhìn nó trừng trừng.

Tong! Tong! Những cái mặt rút ra dài ngoẵng, rồi xô tới xông thẳng vào nó. Nó thấy từ miệng ông chủ, bác Cả, chú Ninh những chiếc răng cứ dài mãi ra trắng nhởn và nhọn hoắt. Rồi bỗng vỡ òa. Răng, mắt, mũi.v.v quấn xoắn lại với nhau trong tiếng cười gầm gừ khùng khục.

Nó chợt ngộ ra tất cả. Mọi sự hỗn độn mung lung trong cái đầu u mê của nó bỗng trở lên rõ ràng và rành mạch hơn bao giờ hết. Thế là hết. Hết thật rồi. Cứu tinh của nó đến không phải để cứu nó mà đưa nó về cõi chết. Nó rùng mình. Nước mắt nó ứa ra, ứa ra run rẩy.

Tong! Không phải máu. Không phải máu, mà là một giọt nước mắt. Một giọt nước mắt trong vắt rớt xuống bát nhôm. Nó khóc. Đây là lần thứ hai trong đời nó khóc. Lần đầu, khi ông chủ băng bó vết thương cho nó, nó đã khóc nghẹn ngào. Và lần này nó cũng khóc. Khóc nghẹn ngào.



Cu Tý chạy lại đưa cho cái đũa rồi chầu hẫu háo hức đứng bên, ánh mắt hiếu kỳ sáng lên trong veo. Ông chủ Tuất chọc chiếc đũa vào cổ nó, chỗ vừa cắt, lần tìm mạch hồng. Xung quanh lặng đi, tất cả các con mắt dồn hết lại dõi theo từng chuyển động của chiếc đũa. Một khoảng lặng căng thẳng. Không gian như tù đọng lại. Thời gian ngột ngạt trôi đi xen lẫn những tiếng rên ư ử khò khè khó nhọc. Chợt: “Kìa! Đấy! Sát ngay dưới đấy anh!” – chú Ninh kêu phấn khích. Mạch hồng đây rồi. Nó hiện ra, đập nhè nhẹ phập phồng. Ông chủ Tuất lựa tay luồn chiếc đũa ra sau mạch, từ từ kéo tách ra ngoài. Ông quay sang bảo chú Ninh: “ Chuẩn bị nhé. Chú khuấy nước hãm đi. Đều tay vào đấy”. “Rồi! Bác yên tâm”.

Một cảm giác nhói đau. Nó tru rít lên thảm thiết oằn người quẫy đạp vô vọng. Máu vọt thành tia bắn xuống bát nhôm sàu bọt, sục lên màu tươi rói. Nó giãy giụa xoắn người. Tia máu phun vọt ra khỏi bát nhôm, vấy loang lổ lên áo, lên mặt của ông chủ Tuất. Bàn tay của bác Cả và ông chủ Tuất siết chặt người nó cứng ngắc như những gọng kìm. Tuyệt vọng và kiệt sức. Những tiếng rên ư ử cứ nhỏ dần. Người nó lả đi, lả đi. Mắt nó hoa lên. Bên tai nó, tiếng thìa khuấy chạm vào thành bát lanh canh như tiếng khánh. Rồi tai nó cũng ù đi. Lùng bùng trong tai, nó nghe thấy tiếng ê a của cu Tý như tiếng kinh siêu độ:
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng…riềng.
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng…gi.i.ề..n…n…g.
…đi chợ mua tôi đồng…g.i.i..ề..n…n….n…g.
….mua tôi đồng…g..i..i…ề…n….n…..n….g.
….…..gi….i.…i…..ề…n….n…..n….g.

Kết một:

Khoảng hơn hai tiếng sau.

Mâm dọn ra. Đủ bảy món thơm lừng, nóng hôi hổi. Rượu quê sóng sánh, bát tiết đỏ au với mấy cọng húng chó xanh mướt phủ trên. Bác Cả xắn một miếng đút tọt vào miệng từ tốn nhai rồi gật gù:
- Chú Ninh đánh khá thật. Đông xắn xặn. Có vị mát của tiết, vị ngọt của nhân, vị bùi của lạc, lại có độ giòn sần sật của cuống họng và thơm mùi húng. Ngon lắm!
- Chuyện! Món tủ của em mà – Chú Ninh hào hứng nói - Nhưng công nhận con này sống dai. Đến lúc sắp cạo lông mà em vẫn thấy nó còn rên ư ử. Thế là lại phải dùng chày táng cho một phát vào đầu nữa nó mới ngỏm hẳn.

Ông chủ Tuất nâng chén rượu, vạt tay áo loang những vết máu gạt đi nói:
- Thôi nào! Uống đi anh em! Mát trời thế này, rượu cuốc lủi nhắm với thịt cầy là nhất.

Uống xong chén rượu, khà một tiếng dài khoan khoái ông kể:
- Con Mực này hồi xưa khôn lắm….

Cạnh mâm cu Tý đang nghẹt mồm với miếng chả chó ngọt lựng. Miệng nhai, tai nó dỏng lên hóng chuyện. Nó vừa nhai vừa nghĩ về buổi bắn chim chiều nay. Không có con Mực đi nhặt chim thì kể cũng tiếc. Mà thôi! Chả ngon thật. Nó thò đũa gắp thêm miếng nữa.

Kết hai:

Người nó lả đi, tai lùng bùng toàn tiếng lanh canh thìa khuấy với tiếng ê a riềng mẻ của cu Tý. Thoi thóp, thoi thóp. Nó thở dốc, hổn hển và khò khè. Cơn điên chợt bùng bùng trỗi dậy trong nó. Chết thế này sao? Chẳng lẽ chốc nữa thôi nó sẽ biến thành đĩa hấp, đĩa chả, bát xáo trên mâm rượu cho đám người bạc ác kia hể hả sao? Không! Không thể như thế được! Nó quẫy mạnh, cái quẫy sinh tử. Cũng chẳng hiểu sao mà nó lại khỏe đến vậy. Nó vùng khỏi những bàn tay tử thần. Con dao trên tay ông chủ Tuất văng ra cứa đứt sợt dây thừng khóa mõm. Nó lăn nhào xuống sân, hất tung bát máu. Máu tóe lênh láng khắp sân. Người nó bết toàn máu đỏ rực. Đám người bu quanh hốt hoảng nhảy dạt ra. Nó vật mình quẫy vung. Vệt cắt trên cổ nó ngoác ra, đồng thời những vòng dây thừng khóa mõm nó cũng tung ra nốt. Mắt vằn máu, nó nhe nanh gầm lên dữ tợn. Oằn mình trong vũng máu, những vòng dây trói nó lỏng dần, lỏng dần…

Sau phút hốt hoảng ban đầu, đám người xung quanh vội bu lấy nó. Ông chủ Tuất quát: “Cẩn thận kẻo nó sổng”. Chú Ninh nhoài người vớ lấy viên gạch. Bác Cả vơ vội cái chày giã riềng xô đến táng mạnh vào đầu nó. Lăn vòng sang bên, nó quay lại táp mạnh vào cổ tay bác Cả, đồng thời vùng mạnh. Dây trói bật tung, nó chồm dậy thế thủ. Cu Tý sợ quá chạy tọt vào trong nhà. Mấy người còn lại cầm chày cầm gạch gườm gườm quây quanh nó. Vây hãm và đối đầu. Hai bên cùng vằn mắt nhe nanh lừa thế. Ông chủ Tuất mặt loang lổ máu nhìn nó trừng trừng, khom người lựa thế từ từ tiến lại định nhặt con dao lăn lóc giữa sân. Nó trừng mắt nhìn ông chủ. Mắt đối mắt vằn lên sọng máu. Gừ gừ ừ..ừ…. nó co người từ từ lùi lại thế thủ. Máu từ vết cắt trên cổ, trên người nó nhỏ long tong. Răng nó nhe ra, những tiếng gầm gừ căm giận sục sôi trong huyết quản. Căng thẳng phút tử sinh. Chợt ông chủ Tuất nhoài người định vớ lấy con dao. Nhưng nó còn nhanh hơn. Nó nhảy vọt lên chồm người lao thẳng vào mặt ông chủ Tuất với cả khối căm hờn. Ông chủ Tuất chới với ngã ngửa người ra giữa sân. Nó vụt qua, lao nhanh ra ngõ. Đám người xô theo. Chú Ninh ném vù viên gạch sạt ngay trên đầu nó.

Nó chạy. Nó chạy với tất cả sức lực còn lại trong người. Sau lưng nó thình thịch ráo riết tiếng chân truy sát. Gạch đá veo véo vây quanh. Nó luồn hàng rào, vượt qua những bụi tre gai rậm rịt, băng ra cánh đồng mía mênh mông ven làng. Những luống mía sắp tới ngày thu hoạch ken đặc, cao vống ôm ấp chở che cho nó, cản bước kẻ thù. Nó luồn, nó lách, nó lao đi như điên bỏ lại xa dần phía sau đám người truy sát cùng những tiếng chửi rủa tục tằn…

“Xương gà, da chó”. Nắng, gió cùng bụi đất mau chóng giúp nó gắn liền vết thương. Bộ lông đẫm máu ngày nào cũng đã được thay bởi lớp lông mới mượt. Giờ đây nó trở thành một con chó hoang. Những cánh đồng, những đồi cây là nhà của nó. Tự do và phóng khoáng. Thực tế dạy thêm cho nó nhiều bài học nữa giúp nó khôn hơn, lanh hơn, mưu mẹo và đa nghi hơn. Nó thấy thoải mái và hài lòng với hiện tại. Nhưng nó vẫn sợ. Nỗi sợ đeo bám ám ảnh tâm cam nó. Đó là con người.

Ps: Có lẽ nên đổi: chú Ninh = chú Hợi, bác Cả = bác Cả Mùi, con Mực = con Vàng thì ổn hơn.

Note: Bài của bạn BIBÔ trên diendanvanhoathethao.net



Thứ bảy, ngày 19 tháng năm năm 2012

THƠ, HỜ HỜ...


© wisnu broto
© wisnu broto
© wisnu broto
© wisnu broto

Em không giống mẹ.


(Của mẹ)


có một ngày linga thất lạc,
mẹ chong đèn ngơ ngác,
mỗi đêm về, thả bệ rạc ven sông…


nhễ nhại lăn theo dấu chân để cầm cố hơi thở của chồng.
những dấu chân chẳng vẹn nguyên,
hơi thở chòng chành trong tay mẹ khi trùng dương nổi gió,
ai gieo vào lòng mẹ một hoàng hôn đỏ,
rồi lao theo cánh buồm.
lạy lục bốn phương,
trắng mặt cuống cuồng, mẹ đi tìm linga của mẹ…
đến lúc mặt trời mất dấu,
khi cánh rừng trôi vào giấc ngủ sâu.
còn riêng mẹ vục đầu vào nỗi nhớ…


ngày tháng ấy, mẹ lờ nhờ trong đêm
chối phăng những linga đang khoa trương lộng lẫy,
vẫy gọi trước hiên nhà,
những linga múa vũ điệu ma trơi,
rối bời bên cửa sổ.
mẹ bảo những linga không dậy mùi đất trời,
không đủ làm mẹ say,
thì thôi cứ đợi...


đợi chờ trong mơ với nỗi nhớ hoang sơ,
vọng mải miết đến tàn hơi rồi hóa thành thành nấm mồ trên đỉnh núi,
mẹ dặn hãy treo mẹ lên giữa trời,
để bao giờ linga thành khói,
thấy lối dạt về…


nhưng anh ơi! em không giống mẹ!
em không được như mẹ,
em bức bối cảm giác đợi chờ
miệt thị phút giây tuyệt vọng,
thế giới vài tỷ đàn ông,
vơ tay cả nắm,
hà cớ gì phải gặm nhấm nỗi đau?


em không giống mẹ,
nên khi linga của em trôi về phía yoni khác,
ngửa lồn mình,
em nghêu ngao hát...bên sông.@thơ của con Hà Cao đấy. Hay vãi...

Thứ sáu, ngày 18 tháng năm năm 2012

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG SINH NHẬT CỤ





Viết về lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ hai mươi mà không nói tới một nhân vật sáng chói, Hồ Chí Minh, thì không phải nói về lịch sử.


Cụ Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như tất cả các ánh hào quang vinh của dân tộc như Lê Lợi, Quang Trung, do đó có nói thêm hay nói xấu cũng bằng thừa.


Nhưng vì phần lớn người Việt sống cùng hoặc cận kề với thời của Cụ, nên những nhận xét vẫn mang đầy cảm tính cá nhân, do sự chao đảo của thời cuộc mà vì số phận cá nhân vô tình hay bắt buộc, mà có những nhận xét nghiêng về chiều này và chiều kia.


Bài nói sơ qua sau đây, trong mục chung viết về Đông Nam Á, sẽ cố gắng tóm tắt một cách trung thực nhất về nhân vật lịch sử này, trên quan điểm khoa học xã hội, đứng ngoài các tranh chấp lợi ích về chính trị.


Trước hết, Cụ Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình dòng họ sĩ phu. Thân sinh ra Cụ là bạn bè đồng tâm đồng cốt với các bậc tiền bối nhà nho yêu nước của Xứ Nghệ như Phan Châu Trinh hay Phan Bội Châu. Ông tổ của dòng họ là Hồ Dưng Dật. Dòng họ này trước đã từng hai lần làm Đế Vương nước Nam: Hồ Quí Ly và Hồ Thơm (Nguyễn Huệ). Nên khi thành danh Cụ lấy lại tên là Hồ Chí Minh, họ cũ của ông nội Hồ Sĩ Tạo.


Ở Cụ Hồ Chí Minh, theo nhân tướng học Á Đông, là người có hội tụ tất cả những ưu điểm của người Á Đông, lanh lẹn, tinh tường, thông minh với đôi mắt sáng long lanh, tai dơi, mặt thuôn hình chuột và đặc biệt có giọng nói rất ấm áp, ai cũng có thiện cảm, kể cả đối thủ, khi gặp mặt nói chuyện.


Nhưng cũng vì là tiêu biểu cho người Việt Nam thì Cụ cũng có cái hạn chế tiêu biểu nhất của người Việt Nam: Không có tư duy sâu sắc và cho nên thiếu tầm nhìn chiến lược, đưa ra những lựa chọn gây thảm cảnh rất ghê gớm trong những bước ngoặt của lịch sử đất nước, sẽ nói rõ ở sau trong từng trường hợp cụ thể.


Ngược lại, cách giải quyết tình thế rất nhanh trí, khôn khéo giúp cho đạt được rất nhiều thành công. Và đặc biệt, trong lúc đàm phán tranh chấp hay công việc bình thường, Cụ thường tấn công theo ngả tình cảm cá nhân, lấy lòng đối phương. Ví dụ khi đi Pháp đàm phán về Hiệp Định sơ bộ 06-03, Cụ cho Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đàm phán còn mình đi vận động vòng ngoài. Lúc đàm phán bế tắc, có nguy cơ bị tan vỡ, Cụ phải hai lần một mình lúc 02 giờ đêm đến nhà Bộ Trưởng thuộc địa, trưởng đoàn đàm phán Pháp, nói chuyện “tình cảm”. Sau này, vị bộ trưởng người Pháp đó trở thành bạn thân của Việt Nam, hết lòng ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh với Mỹ và là chính khách phương Tây duy nhất có mặt tại đám tang Cụ.


Vào năm 1946 ở Hà Nội, khi tiếp chuyện viên sĩ quan phái bộ Đồng Minh, sau khi làm việc, Cụ đã mời dùng cơm, căn dặn gia đình tư sản giúp làm bữa cơm thân mật ấy phải tìm cho bằng được loại rượu mà viên sĩ quan này thích uống. Lúc đó Nguyễn Tường Tam dựa vào Quốc Dân Đảng chống phá chính phủ lâm thời, Cụ phải vận động dân góp vàng và thuốc phiện đút lót Tướng Quốc Dân Đảng, và Cụ thân chinh bất ngờ đến nhà riêng thăm Nguyễn Tường Tam. Cụ cho cận vệ vào nói “Cụ Hồ đến thăm anh đó." Nguyễn Tường Tam đang mặc pijama nằm trên võng, vừa chuẩn bị đứng dậy Cụ đã vào đến nơi, khiến chủ nhà hoàn toàn ở thế bị động. Hay trong lúc ốm đau được các y tá bác sĩ Trung Quốc chăm sóc Cụ thích nghe bài hát Trung Hoa, chả phải vì mê nhạc Trung Hoa mà vì tính mạng mình nằm trong tay người ta, phải lấy lòng một chút. Hay Cụ thích ăn món sườn chua Quảng Châu, mặc dù các đầu bếp của phủ đã được học, nhưng cứ nhất thiết đại sứ Tàu tự nấu mới khen ngon...


Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu có, là tư tưởng ưa dùng bạo lực. Ngay từ thời thanh niên khi sinh hoạt trong nhóm người Việt yêu nước ở Paris, Nguyễn Tất Thành luôn luôn đưa ra và bảo vệ lý lẽ đến cùng là phải dùng bạo lực ngay tức thì đánh đuổi thực dân Pháp. Các sĩ phu đã nói ngay: “Anh nói dùng sức đuổi Pháp ngay bây giờ thì lấy gì mà đánh, chẳng khác chi nướng mạng dân đen cho giặc. Anh có muốn đánh Pháp hãy về nước ngay để đánh, ở lại đây làm chi” Nguyễn Tất Thành vẫn quả quyết: “Thế còn đợi Pháp đè đầu cưỡi cổ đến bao giờ nữa?” Một sĩ phu cao tuổi từ Mác-xây (Marseille)lên Pari họp, đang định phát biểu, Nguyễn Tất Thành đã sẵng giọng: “Còn bác này, lại muốn nói gì nữa đây?” Thái độ của Nguyễn Tất Thành khiến vị chí sĩ này định phát biểu lại thôi.


Trước khi về nước, có bậc đại sĩ phu gửi bức thư ngỏ cho anh Nguyễn, nói việc nước có gì cứ hỏi anh Nguyễn nhưng Cụ cũng lưu ý là anh Nguyễn chưa lường hết được hậu quả của việc anh sẽ làm. Cụ đã lo ngại cách làm đó mang mâu thuẫn của thế giới về cho dân Việt, thành đại hoạ. Và Cụ đã có lý.


Trong thời đất nước tạm thời chia cắt, trước sự đắn đo thống nhất đất nước bằng hoà bình hay bằng bạo lực, Cụ Hồ Chí Minh gọi ngay Lê Duẩn, một con người cương quyết dùng bạo lực trong Nam, và là người hoàn toàn xa lạ tại Trung Ương ra ngoài Hà Nội, trao cho chức Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động, nay là đảng Cộng Sản Việt nam. Bằng cách đó, Cụ đã quyết thống nhất đất nước bằng con đường bạo lực, nhưng bên trong các cuộc phỏng vấn phát biểu vẫn nói yêu hoà bình ghét chiến tranh. Câu nói “Ta có chính quyền trong tay các chú sợ gì” hay “Cái đũa cong muốn uốn thẳng thì phải bẻ quá sang phía bên kia” đã bật đèn xanh cho chính quyền của Cụ đàn áp không thương tiếc những người trái chiều. Khi đội cải cách kết án tử hình bà Nguyễn Thị Năm, Cụ nói không muốn tử hình người đầu tiên là đàn bà, không đánh đàn bà dù chỉ bằng cành hoa nhưng dưới bút danh khác, cụ viết trên tờ Chiến Sĩ, tiền thân của báo Quân đội Nhân dân, bài “Địa chủ ác ghê” kể rằng địa chủ Năm đã giết tới hai trăm nông dân. Còn tại sao lại có cải cách ruộng thì ta đi ngoài lề nói thêm một chút.


Cho đến thời điểm này, chưa ai nói đúng nguyên nhân chính của cải cách ruộng đất. Đúng? Sai? Hay thực hiện sai? Đi quá đà?


Cải cách ruộng đất đối với nạn nhân và xã hội miền Bắc là thảm khốc, nhưng đối với đảng Cộng Sản Việt Nam là bước đi đúng đắn hoàn toàn cần thiết. Vì sao?


Trước khi giành được chính quyền, Đảng Cộng Sản là tổ chức ngoài vòng pháp luật, hoạt động bí mật. Cơ sở của đảng hoàn toàn không có gì, chỗ ăn ở còn phải nhờ người dân. Nhưng khi giành được chính quyền, ngoài lực lượng chính trị cần phải có rất nhiều nhu cầu khác để hình thành một chính quyền, một bộ máy hành chính có thể hoạt động được. Từ trụ sở làm việc, cái ghế cái bàn để cán bộ ngồi hay những chi phí cho hoạt động của chính quyền cũng phải nhờ các nhà tư sản. Và chính quyền phải có giấy tờ, có người biết chữ làm sổ sách. Hồi đó dân ta hầu hết mù chữ, tức là tầng lớp vô sản.Và để chính quyền hoạt động được tất phải có sự trợ giúp của những tầng lớp đã từng bám đít tây, tiểu tư sản, nhà văn, bác sĩ, nghệ sĩ, địa chủ...Như vậy chính quyền vô hình chung, được xây dựng bằng vật chất cuả giai cấp tư sản và kỹ năng hoạt động được nhờ vào tầng lớp tri thức khác. Và mặc định, những người của hai tầng lớp đó, vì có công có khả năng nên đã nắm nhiều chức vụ trong chính quyền kháng chiến. Đảng Cộng Sản biết điều đó, nhưng không thể làm khác được vì bản thân không dựng nổi một chính thể hành chính có thể hoạt động được, nhất là về kỹ năng và vật chất. Và cách mạng “vô sản” Việt Nam có lẽ sẽ chuyển dịch sang hướng khác nếu như Mao Trạch Đông không thắng Tưởng Giới Thạch.


Sau khi đảng Cộng Sản Việt Nam đã tìm được người đỡ đầu là đảng Cộng Sản Trung Quốc, thì Trung Quốc hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả mọi mặt, hành chính chính sách tổ chức cán bộ và tất nhiên cả về vật chất. Nên đảng Cộng Sản Việt Nam bắt đầu có đủ sức, đã nắm lấy cơ hội gạt những phần tử trên ra khỏi chính thể của mình. Cải cách ruộng đất, người cầy có ruộng, chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài của chiến dịch đó. Nhiều sĩ phu trí thức lúc sắp bị bắn mà vẫn kêu oan, vì họ nghĩ rằng đảng chỉ làm cải cách RUỘNG ĐẤT nên nếu bắt họ là oan. “OAN CHO TÔI LẮM CỤ HỒ ƠI” là câu nói cuối cùng của nhiều nhà tư sản, trí thức ngay từ đầu mang tài sức tiền bạc theo Cụ Hồ đánh Pháp, trước khi bị đội cải cách xử tử.


Có một sự lầm lẫn lớn, nhất là phía hải ngoại, nói Cụ Hồ là người mang chủ nghĩa Mác Lê vào Việt Nam. Khi đảng Cộng Sản đang hoạt động mạnh mẽ nhất tại ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thì Cụ hầu như vẫn đang đứng bên lề cuộc đấu tranh, đang làm cái chân nghiên cứu sinh vô bổ tại đại học Phương Đông Matxcơva (Moscow). Chỉ khi Cụ làm liên lạc viên, phụ trách chuyển giao thư từ Đông Dương đến Quốc Tế Cộng Sản và ngược lại, lúc đó Cụ mới bắt đầu bám rễ vào đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong văn khố của Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên xô vẫn còn lưu tài liệu của tổng bí thư Hà Huy Tập, phàn nàn chuỵện Nguyễn Ái Quốc tự động sửa đổi thư từ Đông Dương gửi cho Quốc Tế Cộng Sản.


Cụ Hồ là con người thực dụng, hiểu theo nghĩa tích cực, Pragmatisch, biến hóa khôn lường nhưng đối với tiêu chuẩn của người Cộng sản là vô nguyên tắc. Chính Stalin đã công khai nhận xét như vậy.


Cái vô nguyên tắc trầm trọng nhất là liên hệ với Lâm Đức Thụ. Mặc dù Quốc Tế Cộng Sản đã chính thức thông báo Lâm Đức Thụ là mật thám Pháp, cụ vẫn dùng cơ sở của họ Lâm ở Quảng Châu làm địa điểm học tập cách mạnh cho các đảng viên từ Việt Nam qua. Trong cuốn hồi ký có viết, sau khi khoá học kết thúc, có chụp ảnh. Hồi đó chưa có phim mà chụp bằng miếng kính tráng nitrat bạc, Cụ Hồ giả vờ xem miếng kính rồi “lỡ tay” đánh rơi miếng kính chụp hình Cụ. Hà Huy Tập viết thư lên Quốc Tế Cộng Sản, đòi khai trừ ra khỏi Đảng và đề nghị tử hình Nguyễn Ái Quốc.


Sai lầm về chiến lược lớn nhất là vào năm 1945. Khi Nhật đảo chính Pháp, sau đó phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, giai đoạn này ở Việt Nam đang có khoảng trống quyền lực, thời cơ chín mùi để cướp chính quyền. Nhân cuộc tuần hành biểu tình của công chức Hà Nội ủng hộ chính quyền thân Nhật của Trần Trọng Kim ngày 19 tháng Tám năm 1945, Việt Minh lên khán đài giật micro, kêu gọi lật đổ chính quyền, thành lập chính thể mới. Và đến ngày 02-09 tuyên bố độc lập. Và điều tai hại Cụ đã lựa chọn nhầm chiến lược. Cụ đã không nhìn ra xu thế chung của khu vực là sự thắng thế đang đi lên của phe Xã Hội Chủ Nghĩa, và Việt Nam không thể tách rời ra khỏi xu thế này. Nhất là khilực lượng nòng cốt của cách mạnh Việt Nam lúc đó là Việt Minh. có đến 90% là lực lượng cộng sản, hoàn toàn có khả năng lập được một nhà nước chuyên chính lúc đó.


Nhưng Cụ đã chọn cho Việt Nam là một nhà nước Cộng Hòa, theo xu hướng - xin nhắc lại- chỉ theo xu hướng phương Tây, nhằm bật đèn xanh cho phe đồng minh, phe thắng trận. Nhưng Anh Mỹ biết Cụ là người Cộng Sản, còn Stalin từ trước đã biết Cụ là người theo hướng dân tộc chủ nghĩa, do đó không bên nào công nhận chính quyền của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Nếu Việt Nam lúc đó tuyên bố theo Chủ Nghĩa Xã Hội thì có khả năng Stalin sẽ đứng ra bảo trợ. Hậu quả tai hại là phe thắng trận coi Việt Nam là nước vô chủ. Phía Nam thì quân Anh, phía Bắc thì quân Tưởng Giới Thạch vào tiếp quản. Sau đó quân Pháp vào thay thế quân Anh, mở đầu cho cuộc xâm lăng lần thứ hai của thực dân Pháp.


Không thể phủ nhận ý và tâm của Cụ, dù với mục đích gì chăng nữa, muốn nước Việt Nam thành một nước Cộng Hoà và Dân Chủ. Nhưng ý và tâm muốn mà không nhận ra trào lưu lịch sử lúc đó, khi phe Xã Hội Chủ Nghĩa đang thành một cơn giông bão kéo dài từ nước Đức qua Đông Âu, sang Liên xô, Trung Quốc, và tới Việt Nam, thì chỉ gây thảm hoạ cho dân tộc.


Sai lầm tiếp theo là ký Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 06 tháng 03 với Pháp. Mục đích chính là muốn đuổi quân Tưởng giới Thạch về nước, nhưng phải trả giá rất đắt và sự thành công lại trông mong vào “thiện chí” của người Pháp. Thực tế đã xảy ra cuộc chiến đẫm máu không cần thiết và chính quyền Việt Nam càng lệ thuộc vào người khác, vào ông hàng xóm nhiều hơn.


Đành rằng quân Tưởng vào giải giáp phát xít Nhật là đội quân ô hợp, mang theo cả gồng gánh vợ con sang. Tướng lãnh nghiện hút, quân lính nhõng nhẽo làm tiền, thậm chí khi đi ăn phở còn xin thêm hai ba lần nước dùng; nhưng nguy hiểm hơn cả là Quốc Dân Đảng Việt Nam dựa hơi quân Tưởng định tiếm quyền. Nhưng để đuổi được quân Tưởng về, qua Hiệp Ước Sơ Bộ phải nhường toàn quyền quản lý 06 tỉnh Nam Bộ cho Pháp, đồng thời quân Pháp được thay thế quân Tưởng kéo ra miền Bắc. Làm như vậy chả khác nào đuổi cáo cửa trước rước báo cửa sau, và là một tính toán rất sai lầm về chiến lược.


Thứ nhất, Pháp quay trở lại Việt Nam đã không giấu giếm là muốn lập lại thời thuộc địa huy hoàng trước kia, như tên tướng Charles de Gaulle đã hống hách tuyên bố, và làm như vậy chả khác nào giúp Pháp chiếm được miền Bắc không tốn một viên đạn. Cụ đã phải luôn thanh minh “Hồ Chí Minh này không bán nước”. Nhưng tính toán của Cụ quả là ngây thơ về chính trị, khi mà muốn nước nhà độc lập lại mời kẻ cướp trông nhà hộ. Thực tế sau đó đã xảy ra điều hiển nhiên: Pháp đòi tước vũ khí của Vệ Quốc Quân Việt Nam, và chính phủ phải bỏ chạy khỏi Hà Nội, bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.


Thứ hai, về quân Tưởng Giới Thạch. Quân Tưởng sẽ tự phải tan rã không cần dùng con bài Pháp, vì lúc đó bên Trung Quốc lực lượng của đảng Cộng Sản Trung Quốc đang trên đà thu được lợi thế. Về phần này, Cụ Hồ Chí Minh đã đánh giá thấp tài năng của Mao Trạch Đông, khi luôn tin vào khả năng của Tưởng Giới Thạch. Thời gian này, Cụ đã cử riêng đặc phái viên của mình là Hoàng Văn Hoan, luôn túc trực tại đại bản doanh của Tưởng Giới Thạch. Nếu có tầm nhìn chiến lược cộng với những thời gian dài hoạt động trong phong trào Quốc Tế Cộng Sản, thì Cụ phải biết lúc đó Liên Xô vừa thắng trận, kết thúc chiến tranh, sẽ có điều kiện dồn vũ khí cho phe Mao Trạch Đông tạo thế áp đảo đối với phe Tưởng. Và giả sử lúc đó phe Tưởng Giới Thạch thắng trận tại Trung Hoa, thì chính phủ kháng chiến của Cụ Hồ Chí Minh khó mà chống cự nổi với quân Pháp, khi mà không có người chống lưng ở Việt Bắc. Về sau khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, chính phủ kháng chiến Việt Nam được Trung Quốc giúp đỡ từ khâu tổ chức, hành chính, vật chất đường lối chính trị và điều quan trọng hơn cả, là có hậu phương an toàn phía sau khi bị Pháp dồn và o ép.


Tóm lại, bước ngoặt của dân tộc vào năm 1945, nếu Cụ Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nhà nước theo Liên Xô thì chắc chắn Stalin, với tư cách ở phe đồng minh thắng trận, sẽ đồng ý cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà quyền giải giáp phát xít Nhật tại Đông Dương. Giai đoạn này sẽ không có cơ hội cho thực dân Pháp và quân Tưởng quay trở lại Việt Nam, đất nước tránh khỏi chiến tranh và bị chia cắt.Lúc đó hoàn toàn có thể làm được điều này, vì lực lượng cướp chính quyền hơn 90% là cộng sản. Nên nhớ rằng hồi đó chưa có khái niệm “Quốc Gia” và “Cộng Sản”. Khái niệm đó chỉ có sau này, khi Pháp nhận ra là không thể tiêu diệt được chính phủ kháng chiến Vệt Nam nên bày trò trao trả độc lập cho Việt Nam, thành lập ra nhà nước quốc gia Việt Nam, và sau đó nhà nước này chuyển vào Nam dưới sự bảo trợ của Mỹ.


Thứ ba, nếu không có Hiệp Định Sơ Bộ 06-03, sẽ không có cuộc chiến tranh với Pháp mà vẫn giữ được một nửa đất nước.


Hiệp định Giơnevơ (Genevo) được ký kết tạm thời lấy Vĩ Tuyến 17 làm ranh giới, và sẽ tổng tuyển cứ để thống nhất đất nước. Thật là nực cười cho đến bây giờ vẫn có người Việt còn ngây thơ nghĩ rằng: Không có tổng tuyển cử, không có thống nhất đất nước là do phía Cụ Diệm hay do phía miền Bắc phá hoại. Sự chia cắt đất nước đã được quyết định bởi những thế lực bên ngoài. Do hệ quả của Chiến Tranh Lạnh, nên vòng quanh hệ thống xã hội chủ nghĩa được bao vây bởi những khu đệm để tránh xung đột giữa hai khối. Phía Tây có Đông và Tây Đức. Phiá Đông có Nam và Bắc Triều Tiên và phía Nam có Bắc và Nam Việt Nam.


Do đó Miền Nam Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chuỗi dây an toàn của “Thế Giới Tự Do” do Mỹ đứng đầu. Trong thế đối đầu của Chiến Tranh Lạnh, Mỹ phải bằng mọi giá bảo vệ Miền Nam, tức là phải giữ thế cân bằng về chiến lược cũng như Liên Xô giữ bằng được các mắt xích của mình, sẵn sàng can thiệp đẫm máu vào Tiệp Khắc và Hung Ga Ri vì quyền lợi an ninh của chính mình. Việc Cụ Hồ Chí Minh tiến hành ngay Giải Phóng Miền Nam bằng bạo lực, ngay tại thời cao điểm của Chiến Tranh Lạnh(Cold War) chẳng khác gì thách thức Mỹ, thách thức cả thế giới trước nguy cơ phá vỡ thế cân bằng đối đầu giữa hai phe khổng lồ. Và việc Mỹ phản ứng điên cuồng là đương nhiên. Hàng triệu thanh niên miền Bắc chỉ có AK và B40 làm mồi cho cỗ máy quân sự khổng lồ hiện đại của bom đạn Mỹ. Cứ 100 thanh niên miền Bắc vào Nam chiến đấu thì chỉ có 20 người vào tới chiến trường, còn 80 người bị bom Mỹ sát hại.


Việc Tổng Bí Thư Lê Duẩn đưa ra đề cương cách mạng vũ trang miền Nam là hoàn toàn đúng, cả việc Nguyễn Chí Thanh vào tận Sài Gòn thị sát tình hình rồi quả quyết có thể đánh được là đúng. Nhưng cả hai người đều chỉ đánh giá thực tại Miền Nam riêng biệt, tách rời với bối cảnh quốc tế. Nhưng Cụ Hồ Chí Minh phải biết vị trí của Miền Nam ở thế đối đầu trong hoàn cảnh Chiến Tranh Lạnh cực kì căng thẳng, nếu dùng bạo lực tất sẽ mang xung đột của hai phe về diễn ra trên đất nước mình, thảm khốc khôn lường. Nhưng Cụ vẫn làm. Đây là sự Nhẫn Tâm hay Không Có Tư Duy Chiến Lược?


Theo tôi, nó nằm ở trong day dứt cá nhân. Hoàng Tùng có viết về 10 điều day dứt của chủ tịch Hồ Chí Minh, chẳng có điều nào là day dứt cả. Ở Cụ, điều day dứt duy nhất là đất nước bị chia cắt. Không có ai muốn đi vào lịch sử như một vĩ nhân mà trước khi đi cứu nước, Đất Nước Còn Nguyên Vẹn khi thành danh vương, đất nước lại chia cắt, hổ thẹn muôn đời.


Cuộc chiến Miền Nam ngày càng khốc liệt, không phân thắng bại, hao người tốn của và thực tế chỉ có người Việt Nam đánh nhau từ khi Mỹ áp dụng học thuyết “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mỹ chỉ dùng hoả lực tối đa bằng pháo và máy bay ném bom, lính Mỹ không ra trận nữa.


Dịp may cho dân Việt, Kissinger, cố vấn an ninh của Tổng Thống Mỹ đã có bước đột phá ngoạn mục. Mỹ đi đường tắt, bắt tay với Trung Quốc chống lại Liên Xô, tạo ra một bước ngoặt trong thế toàn cầu, phá vỡ thế đối đầu Chiến Tranh Lạnh, bỗng chốc Miền Nam Việt Nam không còn là vị trí chiến lược của Mỹ nữa. Và tất nhiên Mỹ tìm cách rút lui trong danh dự, bằng cách ký hiệp định Paris, mặc dù thừa biết, sau đó phía Bắc Việt sẽ thôn tính Nam Việt Nam.


Mặc dù Trung Quốc bắt tay với Mỹ là vì quyền lợi của riêng của Trung Quốc, nhưng qua đó Mỹ đã bỏ ngỏ Miền Nam Việt Nam và miền Bắc có cơ hội kết thúc chiến tranh, giành phần thắng về mình. Do đó,lẽ ra ban lãnh đạo miền Bắc phải thầm cảm ơn Bắc Kinh, nhưng thực tế lại quay ra đối đầu vì Trung Quốc “phản bội”, gây ra hậu quả tai hại về sau này.


Ban lãnh đạo miền Bắc còn phạm nhiều sai lầm về chiến lược, ngây thơ và tự cao tự đạo khi cho rằng: Chiến thắng toàn vẹn cuối cùng là do sức mạnh của hệ thống cùng chế độ cùng ý thức hệ, mà không biết rằng do đối đầu Chiến Tranh Lạnh đã kết thúc. Ban lãnh đạo miền Bắc không nhìn ra thế chiến lược toàn cầu mới, nên không còn đối đầu với các hệ thống chính trị khác nhau nữa mà đối đầu về quyền lợi quốc gia lãnh thổ; do đó vẫn coi Mỹ là kẻ thù và Trung Quốc thuộc phe ta. Ngay cả khi Trung Quốc tấn công xâm lược Việt Nam, mà vị lãnh đạo cao nhất Việt Nam vẫn chỉ đạo là “dù sao Trung Quốc vẫn là nước Xã Hội Chủ Nghĩa cùng với ta”.


Trong hồi ký của Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ có viết rằng: Việt Nam và Mỹ cũng có những cuộc tiếp xúc để bình thường hoá quan hệ sau khi chiến tranh kết thúc, nhưng vướng mắc về phía Việt Nam đòi Mỹ phải bồi thường 06 tỷ đô la là điều kiện tiên quyết nhưng phía Mỹ không chịu, lý do Quốc Hội Mỹ sẽ không chấp nhận??? Điều khoản bồi thường chiến tranh 06 tỷ đô la nằm trong Hiệp Định Paris trong đó nêu rõ: Miền Nam Việt Nam có hai chính phủ, hai quân đội, là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với cờ vàng sọc đỏ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam với cờ đỏ và xanh có ngôi sao vàng ở giữa, nhưng miền Bắc đã san phẳng Nam Việt Nam. Bản thân mình thì xé toạc hiệp định, song bắt người khác phải thực hiện hiệp định thì mới thấy nó trơ cùn tới mức nào, mà ông thứ trưởng không nhìn ra??


Tưởng cũng nên biết, trong thời kỳ căng thẳng của Chiến Tranh Lạnh, Mỹ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Mỹ đã kiềm chế được các bên cho khỏi đụng độ giữa hai phe khổng lồ với kho vũ khí hạt nhân. Nếu Mỹ không can thiệp vào Nam Việt Nam thì lúc đó những người Cộng Sản sẽ tràn xuống và tạo ra hiệu ứng domino, gây bất ổn vùng Đông Nam Á vì lúc đó Mao Trạch Đông đang chủ trương xuất khẩu “cách mạng”, nước nào cũng có nhóm Mao ít có vũ trang. Chưa kể đến, vào thời đó, Chủ Nghĩa Xã Hội vẫn đang là Euphorie trên toàn thế giới, sẽ tạo ra một loạt các “Bắc Triều Tiên” chứ không chỉ một Bắc Triều Tiên như bây giờ. Nói sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là xâm lược thật bất công, khi mà họ bỏ ra hàng trăm tỉ đô la và sinh mạng của 60 nghìn con em họ ở một đất nước xa lạ, vì sự ổn định chung của thế giới. Điều đó cũng giống như bảo bộ đội Việt Nam xâm lược Campuchia, khi mà người Việt Nam phải mất đi hàng trăm nghìn người thân của mình, để cứu dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng mà không được một lời cám ơn, thậm chí tượng đài bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Phnom Penh thỉnh thoảng còn bị làm nhục.


Nhân đây cũng nói tại sao các chính trị gia phương Tây thừa biết chế độ diệt chủng Cam puchia tàn bạo man rợ, thừa biết chủ mưu là Trung Quốc, thừa biết bộ đội Việt Nam sang can thiệp là cần thiết mà vẫn lên án là Việt Nam xâm lược, thậm chí ra nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Việt Nam? Là vì họ có tầm nhìn chiến lược, bằng động thái đó, có thể phải thí mạng cả hai dân tộc Việt và Campuchia, họ tỏ thái độ đứng hẳn về phía Trung Quốc để lùa hẳn Trung Quốc ra khỏi thế đối đầu trong Chiến Tranh Lạnh. Và nguyên nhân thật của cuộc chiến tranh gây hấn với Việt Nam năm 79 của Trung Quốc, không phải để dạy một bài học cho Việt Nam như Đặng Tiểu Bình tuyên bố, mà Trung Quốc muốn đưa ra một tín hiệu dứt khoát, rõ ràng với phương Tây là: Không còn hệ thống cùng ý thức hệ, xã hội chủ nghĩa, không còn Chiến Tranh Lạnh nữa và Chiến Lược của họ Đặng đã rất đúng: Từ đó, Tây Phương bỏ cấm vận, hợp tác làm ăn với Trung Quốc và bây giờ họ đang vươn lên nhất nhì thế giới.


Nói tóm lại, sự nghiệp của Cụ Hồ Chí Minh hiện đã thành công mỹ mãn. Đất nước đã thống nhất, chính quyền nằm trong tay đảng của Cụ. Hồ Chí Minh, cũng như các bậc tiền nhân khác của dân tộc, đã lèo lái con thuyền dân tộc trong những bước hiểm nghèo của lịch sử. Nhưng những bậc tiền nhân khác chỉ có mỗi một nỗi lo đánh ngoại xâm giành độc lập, sau đó sẽ lập lại chế độ như lúc trước đã có sẵn. Riêng Hồ Chí Minh muốn đi xa hơn nữa, một lúc làm hai việc: Vừa giành độc lập vừa xây dựng chế độ khác tốt đẹp hơn, như Cụ nói. Nhưng Cụ đã thất bại ở việc thứ hai. Hiện tình đất nước hiện nay là bằng chứng hiển nhiên. Việc thứ hai đã thất bại thì việc thứ nhất cũng không gọi là thành công, mặc dù tốn xương máu của hàng triệu người, như Cụ đã nói “Độc lập tự do mà không có hạnh phúc ấm no thì chẳng có ý nghĩa gì”.


Ở Việt Nam hiện nay thì Hồ Chí Minh được tôn thờ nhiều nhất, bởi vì Cụ là người thành công trong lịch sử, mặc dù mắc nhiều sai lầm hay đi đường vòng tốn xương máu không cần thiết. Nhưng ít ai để ý, vì quyết lược giải phóng miền Nam bằng mọi giá, mọi xương máu không chùn tay không nản của Cụ và các đồng đảng trong thời kỳ căng thẳng của Chiến Tranh Lạnh buộc Mỹ mệt mỏi, dân Mỹ chán ghét chiến tranh làm cho chính quyền Nixon phải tìm liệu kế khác. Họ đã tìm và thấy cái mắt xích quan trọng là Trung Quốc, và chặt phăng nó ra khỏi hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở đầu cho thời kỳ kết thúc Chiến Tranh Lạnh, bắt đầu cho sự khủng hoảng và tan rã dần của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, mở lối thoát cho các nước Đông Âu tự giải thoát mình khỏi cái lồng Xã Hội Chủ Nghĩa.


Nhân dân Đông Âu phải biết ơn Bác Hồ hơn dân Việt Nam mới phải, tôi nghĩ vậy.


PS: Bài viết này nhân dịp ngày 19-05 ngày sinh của Hồ Chí Minh. Nhưng ngày này Cụ cũng phịa ra để nhân dân Hà Nội treo cờ đỏ sao vàng, sau đó nói với phái bộ Đồng Minh là người dân treo cờ chào đón họ.@ bài của đồng chí Lỗ Trí Thâm, đăng trên danluan.org.
Thứ năm, ngày 17 tháng năm năm 2012

TRẤNG VỊT LỘN - Á QUÊN, TRẤNG RỒNG LỘN



Đặt tạm cục gạch, rỗi rãi anh biên sự băng hoại của xứ Thăng Long, Rồng Lộn - Lộn Rồng!!

Đây là bức ký họa Ô Quan Chưởng, thành Rồng Lộn quãng niên 189x. Tất diên đi kèm với bức ký họa nài, lãnh tụ giới thiệu tới chi bộ một vài chiêm nghiệm về thành Rồng Lộn ngàn niên văn vật lối mấy trăm niên trước:
Bức hình nài đích thị Kẻ Chợ một tục danh của thành Rồng Lộn
Đây là quả nhịp chài Yên Thái mặt gương Tây hồ cùng thời điểm
Cầu Giấy chỗ hai viên sỹ quan nước mẹ Đại Pháp tử nạn bởi Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc!!

Niên 189x, bạn thân lãnh tụ Paul Doumer thay mặt nước mẹ Đại Pháp, chính thức nhận lãnh trách nhiệm khai hóa xứ An Nam lông lỗ man di. Nhanh chóng bỏ qua dững ngùi ngùi tiếc thương vì nỗi lính viễn chinh phá bỏ điện Kính Thiên trong thành Rồng Lộn, nhanh chóng bỏ qua mùi thuốc súng còn vương trên cổng Bắc thành, Paul ra tay kiến thiết.
Paul mơ về một Đông Pháp phồn vinh.
Trong khoảng dăm năm, Paul mần ra những giá trị bất hủ trên tuyền cõi Đông Dương. An Nam nhà Chi bộ bắt đầu có đường xá hiện đại, cầu cống, hỏa xa. Cầu Long biên (cầu Poul Doumer) nhân chứng đời đời khắc nghi công bạn anh:
Niên 190x, Paul khánh thành khu Đấu Xảo, hình nó như thế nài nài:
Thứ hai, ngày 14 tháng năm năm 2012

ĐEN VKL.




Sáng tỉnh dậy. Cũng như bao ngày khác thôi. Việc đầu tiên là ra cửa phòng làm điếu vina. Đang hút được nửa điếu thì tự dưng thấy ngứa bẹn quá. Theo phản xạ của mình thì ngứa chỗ nào thì gãi chỗ đấy thôi. Đang thò tay vào gãi phê thì con đối diện phòng mở cửa ra....Ôi đệt, mất hết cả phong độ của mình rồi. Còn gì là boy nạnh nùng nữa.


Con bé có vẻ e thẹn xấu hổ, quay lưng đi rồi nói:


- Khiếp anh bựa thế.


- Bựa cái đầu bồi í. Anh đang bắt chấy rận mà là bựa ah?


Con bé đi vào thẳng tắp. Đừng hỏi tại sao anh lại như thế. Anh luôn như thế với những đứa cáo già lại thíck làm nai con em gái ạ (cái loại cá xấu hạng cân 76 của em mà còn giả vờ ngây thơ anh thấy buồn lắm. Nhìn cái đít xệ của em mà chưa ngậm hơn chục cái "kẹo mút chuối thịt" anh lại bé hơn con kiến ).


Thôi kệ mẹ nó, vào đi ỉa đã. Mấy hôm nay toàn bị kiết lị thôi. Bùn quá!


Dạo này đang tán một em mà khó khăn quá. Hôm nọ vừa bị mất gần hết điểm rồi. Chả là hôm đấy vừa đi đá bóng về, mồ hôi nhễ nhại. Vừa đến nhà mới bít hôm nay có hẹn với em. Thấy muộn nửa tiếng rồi nên vội vàng đi đón nàng mà quên cả tắm. Đi chơi đèo nàng thì nàng hỏi sao người anh hôi thế...


- Ah anh vừa đi đến gần nhà em qua vũng nước bị thằng oto phi nhanh qua, bắn hết lên người em a. Hix, thông cảm cho anh nhé.


- Thế thằng oto bắn cả mùi hôi nách lên người anh nữa hả anh...?


Đẹt mẹ xấu hổ không biết chui vào đâu cho hết.


Làm đếu gì có thằng nào đèo gái đi chơi mà đứa đằng sau đeo đến 2 cái khẩu trang liền. Chết vì nhục mất.


Nên hôm nay phải nghĩ cách đi chơi quyết định gỡ lại điểm vậy.


Mà số mình tán gái sao mà long đong lận đận quá. Tán đứa này là đứa thứ 3 rồi mà chưa có hiện tượng gì.


Đứa thứ nhất thì hôm đi chơi mình có đúng 4k đề phòng lốp xịt còn bơm được. Đi đến bờ hồ qua quán kem thì em nó bảo:


- Anh ơi em khát quá. Lại còn nóng nữa.


Chủ nhật, ngày 13 tháng năm năm 2012

HẢI HÓI'S LOVE STORY.




Mới đầu năm tới giờ mà Hải hói đã kịp thời iêu đến 5 cô. Oái oăm lắm.


Cô đầu tiên tên Mèo Hoang, tít mạn vùng sâu Phú Thọ. Cô này mặt xinh thôi rồi, tóc tai lại kiểu cách, mỗi tội chân tay lại rất gân và thô. Đúng dạng chân tay khô. Trông rất chán. Bù lại mặt rất mướt. Nếu cắt hết đi chân tay, thì chẳng chê cô được gì cả.


Khi iêu Hải hói, cô vẫn cặp kè với một thằng trẻ hơn. Hải hói biết, nhưng hắn không quan tâm. Bởi theo hắn, gái bây giờ tuyền loại điệp viên nhị trùng cả. Thậm chí tam tứ ngũ trùng. Với lại, hắn thích những đồn có địch, thậm chí là nhiều địch. Thế mới hay!


Mèo Hoang iêu Hải hói theo kiểu công nhân viên chức lãnh lương tháng. Nếu tháng nào không lương thì phải quy thành hiện vật. Tỉ như váy xống, son môi, các cuộc chơi và những bữa chén. Tháng nhiều đến 37 củ. Ít cũng mất 1.000 đô. Được 2 tháng thì Hải hói cắt. Lý do đơn giản là chán và dùng nhiều mà lại không chịu khấu hao. Nhưng cái chính là cô này không khéo trong chuyện lấy của thằng miền xuôi để nuôi thằng miền ngược. Làm Hải hói giận. Thế là thôi.


Cô thứ hai tên Meo Meo, gái Hà thành phố cổ ngõ hẹp. Cô trẻ măng, mới sinh viên năm nhất của một trường mạn Mai Dịch văn công đầu buồi. Cô này đẹp thôi rồi. Một vẻ đẹp nai tơ, hoàn mỹ và thánh thiện. Đặc biệt hơn cả, là cô cao kém Mai Phương Thúy chỉ 2 phân. Đẹp là thế, nhưng cô nền nếp, chỉn chu, ngoan đến mức tẻ nhạt. Ngoài giờ học, cô hay về phụ giúp chị bán hàng cơm công sở, gần khách sạn Hải hói.


Cô chị Meo Meo cũng rất đẹp, tuy có thấp hơn Meo Meo tí chút. Vẻ đẹp của cô chị là vẻ đẹp của người đàn bà trưởng thành, nhiều mưu toan và tính toán. Quán cơm công sở của cô chị đông từ tinh mơ đến mịt mờ. Người ta đến ăn là một chuyện. Đến ngắm nghía rồi bình phầm xuýt xoa lại là chuyện khác. Hải hói biết Meo Meo là ở quán cơm này. Nhưng để đến với sự ngây thơ kia, thì phải qua sự trưởng thành một nhát. Thế nên cứ hở tí là lại ra ngồi đồng, tỉ tê với cô chị. Lắm hôm còn bù khú với cả chồng cô ta.


Meo Meo không để í đến Hải hói lắm, lẳng lặng làm phận sự. Chỉ những khi cô chị bảo ngồi chơi với Hải hói thì mới khép nép ghé mông. Mồm cắn móng tay tí tách. Trông yêu cực!


Cô chị Meo Meo cuối tuần hay tổ chức tiệc tùng ở quán. Tuyền người nhà. Bận nào Hải hói cũng được mời và luôn được chào đón và coi như người thân thiết. Những lúc vui vẻ thế, họ hay tạo điều kiện cho hắn ngồi cạnh Meo Meo. Phần họ, ra sức pha trò tán dương, chắp mối. Mà phần hăng hái nhất luôn là cô chị. Phải nói rằng, trong công cuộc tán gái của Hải hói, chưa cơ hội nào rộng mở và rõ rệt đến thế. Meo Meo cũng cởi mở hơn trong quan hệ. Bằng chứng là đã giả nhời tin nhắn, thi thoảng đi kem vặt, xem xi nê. Tất nhiên là cùng Hải hói.


Mọi thứ đang trên đà thuận lợi thì bọp phát Hải hói cũng cắt tiệt. Gặng hỏi mãi mới tiết lộ nguyên do. Chả là cô chị Meo Meo tỉ tê vay hắn 1 tỷ, đầu tư thêm quán mới, hứa hẹn giả nay mai. Nhưng mãi mà không thấy sự phít-bách. Thì chuyện đó đâu lấy gì là to nhớn. Vay thì phải trả thôi, không nay thì mai. Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ đó. Mà là ở chỗ cô chị đem Meo Meo ra làm mồi câu. Không chỉ riêng hắn, mà còn nhiều con cá khác.


Ngu! Thế này thì mất cả chì lẫn mồi là thấy rõ. Nhưng thôi, kệ mẹ. May là vẫn còn...cái cần.


Hắn lại lao vào cô thứ ba. Cô này người Thanh miền núi. Đẹp không chỗ nào chê, trừ giọng nói. Nghe nặng nhọc, oái oăm và đau tai. Báo hại Hải hói mấy lần mắc vạ. Tỉ như bảo anh nghỉ đi thì cô lại bảo là nghĩ đi. Làm hắn phân vân đéo biết nghĩ cái gì. Hay như bảo chở về nhà ở ngã tư Sở, thì cô lại cứ Ngả Ngả Sỡ Sỡ. Làm hắn chả định được lối lang.


Tuy có những khiếm khuyết về thanh âm, nhưng bù lại cô rất chỉn chu, chăm chỉ. Công ăn việc làm lại ổn định. Hải hói rất lấy làm hài lòng và đã quỳ rạp cầu hôn mong chuyện trăm năm. Cô cũng nhận lời chân thành và cầu thị. Một bữa, hắn cùng cô về quê Thanh ra mắt và thăm nhà thăm cửa. Trở ra hắn cắt béng luôn, dù mới nói lời cầu hôn hôm trước. Hóa ra song thân cô kia mắc một chứng bịnh rất ác, phong cùi. Lâu rùi nên tay chân cụt ngủn. Hắn bảo bịnh này di truyền và có cơ chế lây, mặc mẹ khoa học rát họng bảo là chữa được. Vài đứa bạn đểu tư vấn, thì cứ coi song thân cô kia là thương binh kháng chiến rồi tiến hành đón dâu thì đã chết đéo ai. Hắn không chịu. Cắt là cắt.


Lao vào cô thứ tư. Cô này tên Sáo Sậu, người vùng than. Trắng lắm, ngọc ngà thua xa. Làn da trắng cộng với cặp môi hồng làm cô luôn đậm đà và quyến rũ. Cô đến với hắn khi đã kịp thời đá đít một thằng người iêu trẻ con bạc nhược. Tuy vậy, cô vẫn thật thà khoe là còn con gái. Làm hắn há hốc mồm lắc đầu quầy quậy không tin. Hắn luôn có một niềm tin mãnh liệt rằng, làm đéo gì có chuyện đó. Với hắn, iêu nhau mà không rên la là một sự viễn tưởng, bịa đặt và phi lí. Nhưng đời vẫn có những thứ vô lí thế. Như một hôm sau cơn say bét nhè của cô và hắn. Gay go là ở chỗ hắn không làm được gì vì mệt. Và cô kia mồm luôn lảm nhảm và thở ra thì chua lè. Nhiều lần, cô mời hắn về thăm nhà để gặp người lớn bàn chuyện mai sau. Hắn nhận lời và bao bận sắng đi thì con xe lại giở chứng, mặc dù là xe xịn.


Sau đêm say mà hắn không làm gì, cộng với sự lần khân thăm nom, mọi nhẽ, làm cô đổi í. Cô quay lại với thằng người iêu trẻ nít, hiến đời con gái không suy tư. Kết quả, cô dính bầu và làm đám cưới. Hắn ngơ ngẩn mất mấy ngày, rồi chép miệng mà than rằng, tình non, duyên yểu.





Chán chường, hắn bập vào cô thứ năm, tên Mi Mi, gái Hà thành dốc Bác Cổ. Mi Mi đẹp thánh thiện mong manh như cô gì trong một phim của Đài Loan thời xa lắc. À phải, mùa thu lá bay. Hắn quen cô trong bữa tiệc ở một nhà hàng sang trọng và vật vã. Cô làm tổng quản lý ở đó. Cái vẻ đẹp mong manh dễ vỡ kia hút hồn hắn. Mà cũng không hẳn là vẻ đẹp kia, cái trên hết, theo hắn thú nhận là Mi Mi thông minh vui tính. Hắn có thể ngồi hàng giờ để nghe cô tâm tình chuyện đời. Nhiều chuyên rất nhố nhăng buồn cười, nhưng qua miệng cô thành nhân ái, nhân văn, thống thiết. Kể ra thế cũng tài.


Hai bên họ mạc gặp nhau vui tá lả. Coi như sự dạm ngõ uyên ương. Hải hói iêu chiều Mi Mi hơn em bé. Và xứng với những gì Mi Mi đáng được nhận. Chuyện tình ngày một nồng nàn, nồng nàn.


Bụp phát, lại phăng teo. Đéo mẹ, thật là sự lạ. Hải hói bơ phờ, bơ phờ. Hắn khóc rưng rức, kể lể. Hóa ra Mi Mi bịnh tim, giời ạ. Đâu như bị hẹp, mổ cũng đã được mấy năm. Bác sĩ bảo sau mươi, mười lăm năm lại phải mổ nhát nữa, để làm rộng cái van kia ra. Không là toi tắp lự. Nhưng hẵng là may phúc, chứ phải thay nguyên quả van nhân tạo thì còn nhọc nhằn hơn. Ừ thôi, bịnh tật thế cũng là sự thường, có sao đâu.


Nhưng oái oăm ở chỗ, hôm đẹp giời, chúng lên giường với nhau. Giời ạ, đang cao trào thì Mi Mi lăn quay bất động. Hải hói tá hỏa tam tinh vác viện cấp cứu. May còn kịp. Bác sĩ họ bảo, bịnh này, sướng quá cũng lăn quay, mà rầu rĩ quá cũng đi viện. Hết cả hồn.


Hắn bỏ tiền, thuê một bác sĩ tim. Chăm chú nghiêm túc nghe tư vấn nguyên ngày. Bịnh này, nếu lắp van giả thay van cơ học thì thọ kém, không đẻ đái được. Còn như cái sự rộng hẹp kia, thọ hơn tí và vẫn có thể có con. Nhưng là câu chuyện 50/50 thôi. Nghĩa là được mẹ thì mất con, được con thì mất mẹ. Còn như hoàn hảo 100% thì...mất hết. Thật là đau diều.


Mấy hôm nay, hắn rượu suốt. Cứ rượu xong là hắn khóc. Chẳng hiểu cho thân phận hay cho những người tình. Dù là cho ai, cũng thật là...kinh hãi.


Hải hói nhỉ?!
Thứ sáu, ngày 11 tháng năm năm 2012

SỐC & ĐỘC # 8



Một thời đã xa



Em này được cái thật thà. Mình thích!



Tóc bím thôi bay, như ngày xưa.



Thớt voi.



Đọc kỹ khuyến cáo trước khi...xào.
Thứ năm, ngày 10 tháng năm năm 2012

ỒI ỒI, LÀNG TÔI.



Như các bạn đã biết, làng tôi bé như con ốc mút. Trước bến sau lại sông. Nó như khúc ruột thừa, đậu giữa ruột già và ruột non. Thừa thãi và vô tích sự. Ý tôi là làng tôi có cũng tốt, mà đéo có còn...tốt hơn.


Nhưng theo như bố tôi kể lại. Có thể là ông biết hoặc hóng chuyện của các cụ cao niên. Thì làng tôi có đủ đặc trưng và phẩm chất của một làng quê Bắc bộ đơn thuần. Tức là có miếu thành hoàng, có cây đa, giếng nước và mái đình. Mỗi tội sau cải cách ruộng đất, rồi bài phong, đả thực thì những thứ kia tiệt đi mất cả. Đại khái như miếu thành hoàng thành bãi cột trâu, giếng đình thành nơi thả cá, đa chặt dóm lửa đêm đông, đình làng thành hố xí.


Nhẽ vì thế mà làng tôi ngày càng mạt. Chứ như xưa, vẫn theo những gì bố tôi biết hay hóng lại thì trong tổng, làng tôi là giàu và đẹp nhất. Lại có nhiều người đi ra, làm cả cách mạng, làm quan trên tỉnh và cả cho Tây.


Làng tôi có từ thời nào thì chẳng ai biết. Chỉ biết được lập bởi một ả liền bà. Khi bà chết đi thì có miếu ở chân cồn. Nhưng nhẽ là liền bà nên người ta không phong là thành hoàng, mà chỉ gọi là bà cô tổ. Miếu đó gọi là miếu bà cô tổ. Tôi gọi là miếu thành hoàng làng để cho nó sang, nó oách, không hơn.


Còn như đình làng. Xưa chỉ là cột kèo bằng gỗ xoan, gỗ mít, mái lợp là rơm rạ, trống hoác hơ, mặt chính quay ra bến. Đó là nơi tụ bạ của ông lý và một lũ bần nông mỗi khi làng có việc. Hoặc chỉ là nơi người ta túm tụm sau những bữa cày hay nằm khểnh dạng tò he những trưa hè. Mãi sau, đình mới được làm bằng gỗ lim và gạch nung, mái cất ngói âm dương óng ả. Đó là công của cụ Siêu, cự phú trong làng. Chả là cụ bỏ tiền cho làng làm đình mới, đổi lại, cụ thành ông lý. Danh hão thôi. Để cụ được gọi là ông lý Siêu.


Đấy, mọi thứ to nhớn và đẹp đẽ thế. Vì một khúc rẽ định mệnh của lịch sử mà tất cả đã tan hoang. Chẳng còn sót lại gì, kể cả trong tâm tưởng.


Khi tôi lớn lên, làng tôi hẵng còn đẹp. Con đường chính kéo dài từ đầu đến cuối làng biếc xanh những hàng râm bụt, giậu cúc tần vương vấn bụi dây leo tơ trời vàng óng. Cả những thân cây rưới dại cổ thụ sù xì, bốn mùa cho quả chín mọng, ăn ngọt lật. Phía cuối sông, đầu bến, tre kẽo kẹt ru giấc mộng đêm hè. Trong các lối xóm, ngõ vào nhà thẳng tắp bởi những hàng rào chè mạn. Nhà kiểu cách xén tỉa phô trương, phường giá áo để um tùm, rậm rạp. Vườn ai nấy cũng biếc những màu xanh, ngăn cách bởi phên tre đan vội. Ẩn hiện trong tất cả là những mái ngói thâm nâu, những mái tranh đánh vội và những cư dân còi cọc, lắm điều nhưng cũng rất đỗi thân yêu.


Còn như bây giờ, làng tôi khác lắm. Người ta đập hết những mái ngói thâm nâu mà xây nhà tầng chóp nhọn, nhà mái bằng bê tông chắc chắn như nhà tù. Con đường chạy dọc làng đẹp là thế, họ cũng đổ cấp phối  đá răm. Những bờ rào dâm bụt, cúc tần, trà mạn phát tiệt đi cả, thay vào là tường gạch, tường vôi. Mà lại theo lối bần nông, mỗi nhà nhích ra một tý. Đường làng bỗng chốc thành con rắn ráo đang cố bò quanh co để lột xác sau mùa sinh. Những bụi tre cuối sông đầu bến cũng thôi kẽo kẹt. Thay vào đó là tiếng kẽo kẹt của vó bè kéo cá mùa lụt. Và hơn tất cả, những cư dân ngày một còi cọc hơn, lắm điều hơn. Sự thân yêu may chăng chỉ còn gói ghém chút ít trong cái gọi là anh em, họ mạc.


Tôi chẳng biết buồn hay vui vì sự thay đổi của làng. Điều tôi biết hơn là việc miếng đất quay mặt ra bến ngày xưa cất đình sau bao năm tan hoang làm nơi ỉa bậy con trẻ, nơi giao cấu chó má, mèo già đã được một ông trong làng cất nhà mái bằng nguy nga trên nền đất cũ. Ở chưa được năm thì mất chức chủ tịch và đi tù. Con cái tan hoang ốm đau chết tiệt. Giờ nó vẫn là nhà hoang, không ai dám ở. Ối tiền nhân ơi, trách phạt con cháu sao dã man, dữ dội?


Giếng đình sao bao năm làm nơi nuôi cá bột, giờ cũng được nạo vét để cả làng tắm gội. Chỉ thương gốc đa già đã được kịp thời hóa cốt là không thể nào có lại được. Người ta trồng vào đó mấy gốc bàng lá đỏ. Mộ bà cô tổ cũng được dựng bia, bao tường. Mỗi tội ít thấy người khói hương trừ dịp thanh minh hay tảo mộ ngày cận tết. 


Bỗng chốc, làng tôi trở thành làng văn hóa. Vì những thứ thay đổi kia hay làng tôi có văn hóa thật?. Thế còn những làng không được công nhận thì vô văn hóa hết sao? Hay chưa có văn hóa?. Tôi chịu. Bởi cái xứ sở này, họ phát kiến ra nhiều khái niệm và í tưởng vĩ đại lắm, không ở đâu có và bì kịp. Người ta bắt đầu bàn chuyện phục dựng lại đình làng. Ối cha mẹ ơi, phát vãi. Tuyền kiểu thày bói xem voi, cãi nhau lấy được. Lại còn mời cả trên tỉnh, trên huyện xuống tư vấn, tham mưu. Vẫn không xong. Người ta còn a lố a lồ cho tôi mời cả trung ương về nữa kia. Tôi đéo dại. Cầm buồi cho thằng khác đái là một việc rất không nên. Hãy cầm buồi của mình, để không đái vào chân.


Thế là tịt. Và để xứng danh là làng văn hóa, người ta cho một mớ tiền, dựng một cái nhà văn hóa bê tông nghễu nghện giữa làng trên sân kho HTX cũ. Trên biển đề: Nhà văn hóa thôn Phúc Hậu. Chả là làng tôi có tên là Phúc Hậu. Nhưng khốn thay, các cô dâu mới về làng lại đặt một cái tên rất ác là làng Hốc Hại. Là ăn hại đó, thưa các bạn. Bởi đàn ông làng tôi rặt một lũ ăn hại. Quanh năm làm thuê, rồi rượu chè và đánh vợ, hơ hơ.


Tôi may nắm thoát li. Mỗi bận nghĩ về làng là mỗi lần ái ngại. Nhưng đó vẫn là chốn tôi đi về và cũng có thể là nơi an nghỉ. ( đi kiếm ăn đã, tối viết nốt...)


Mà thôi, dán lại bài cũ để dành thời gian biên lảm nhảm vả bọn bần nông & lỗ đít nào.






Bà nội xây xí hai ngăn, cả làng đến ỉa. Định kỳ bốc thăm phân chia sản phẩm. Tươi thì nuôi cá giống, cá bột, dừ tưới rau diếp, bón thốc cà chua. Ấy là chuyện thời thổ tả, kể nghe chơi.


Làng có cụ Cam , tám mươi xuân, tròn bốn mươi tuổi đảng, sinh hoạt xí hai ngăn cực định kỳ như họp chi bộ. Ngày ba bận sáng – trưa - chiều đều như vắt chanh, chính xác đến mức làng nước lấy cụ ra làm…đồng hồ. Cụ tuy đã đại thượng thọ nhưng trông hồng hào, rất khoẻ. Việc cụ chống ba toong tre không làm yếu đi tẹo nào mà trái lại làm cụ duyên dáng, trưởng lão hơn. Áo quần cụ mặc đồng bộ, tuyền gụ. Đi xia hay ra đường lúc nào cụ cũng vai trái đeo xà cột, vai phải đeo Na ti ô nan bán dẫn bao da, tay chống ba toong tre, tay vuốt râu cằm trắng và đẹp hơn râu ông Cụ.   


Đi xia xí hai ngăn dưng cụ tuyền vào nhầm chuồng mặc dù trên cửa gỗ có ghi rõ ràng Xí Nam – Xí Nữ, nghĩa là cụ tuyền xia bên Xí Nữ. Sự lộn chuồng của cụ gây ra nhiều bất cập, làng nước ai cũng phàn nàn, than vãn nhưng thấy cụ già nên cũng chả lấy làm nhẽ trọng. Cũng có đứa to gan bảo sao cụ lại thế, cụ nhạt mà phán rằng xí của liền bà nó nhẹ mùi, bên liền ông nặng, sốc lắm. Già nên phế quản teo, thuận chả sao, hít mạnh sốc cao lại lăn đùng ngã ngửa. Chả ai phiền cụ nữa, mặc định chỗ của cụ bên Xí Nữ, không kêu.


Nhẽ cụ già nên sự đi xia lâu la lắm, một phần. Phần nhiều hồi ý tuyền ăn sắn gạc nai, bo bo hôi, gạo kho mốc nên phần táo bón lắm hơn, nhất là với cụ, già cả dạ dày, lòng mề ốm yếu, nguy nan. Cụ xia hàng tiếng đồng hồ. Đám liền bà con gái đôi khi mót cứ lấy đá ném ầm ầm vầu cửa nhưng cụ cấm có ra, cũng chả thèm đằng hắng đánh động. Bên trong quả Na ti ô nan veo véo. Sáng chào cờ, trưa quốc ca, chiều xã luận. Đã bảo rồi, lúc nào cụ chả đeo đài bên hông. Nhưng hãi nhất là quả xà cột, trong cụ đựng tuyền giấy báo Nhân dân, cắt vuông vắn mười đều trăm to bằng bao Điện Biên cán cụt, riêng mục xã luận cụ cắt đúng khuôn, trọn bài, tuỳ bữa ngắn dài mà đâm ra thò thụt. Tất cả phục vụ cụ chùi đít khi xia xong. Ngày đó, cả làng mỗi cụ được phát báo, oai oách, kinh hoàng lắm. Thế nên cụ oai cả khi đi xia bởi cả làng từ đầu bạc đến nứt mắt xia xong tuyền vò lá chuối khô hoặc đánh kịn gốc nhãn, bờ rào, mấy gái hĩm sắp lấy chồng ra chiều vệ sinh sạch sẽ mới khạng chân, dúm quần bê đít ra ao.


Cận tết, tát ao HTX, nước đang còn săm xắp thì đòm phát có lệnh dừng từ xã ban.


Bí thư, chủ nhiệm chạy xầm xập xuống. Trần Phóng, bí thư chi bộ thôn chỉ trỏ, đấy các anh xem, xã luận lềnh phềnh hết cả, các đồng chí lãnh đạo ta mặt mũi băm cắt không ra nhân dạng bám hết cả vào đám bèo Tây, phản động quá thể. Bí thư hỏi, đâu ra thế? Trần Phóng nhợt mặt, lẫn trong phân xí hai ngăn xúc đổ cá ăn đấy. Nhà bà nội ồn ĩ. Chủ nhiệm sấn xổ, nhà bà rõ là phản động, quá thể lắm. Bà nội điên, cả làng này tuyền lá chuối khô mới đánh kịn lấy đâu ra giấy má đấy, tôi xây xí hai ngăn cho làng nước đi xia lại còn phải đi canh sự chùi rửa là sao, rõ vô ơn. Không biết! Bí thư lắc đầu, gọi chủ nhiệm mới Trần Phóng ra sân, chụm đầu. Lệnh cấm tát ao tháo dỡ, xã luận, ảnh hình, chữ nghĩa được vớt sạch, nhét sâu xuống bùn ao.


Trần Phóng nịnh bà nội, em làm oan cho bác quá. Chả cụ Cam thì còn ai vào đây, đến như em bí thư chi bộ thôn còn phải xuống uỷ ban đọc ké Nhân dân nữa là. Nhưng sao cụ lại xia bên Xí Nữ nhỉ, mấy đứa đánh phân cá ăn khai xúc ra ở đó. Bà nội vỗ mông phành phạch, chú đi mà hỏi cụ ấy, bao năm nay vẫn thế, làng nước ai nói gì đâu. Trần Phóng vỗ về, bác đừng nóng, em hỏi thế là để sửa sai, khắc phục cũng như xác minh có chính xác là của cụ Cam hay không thôi, đặng còn giáo dục, kiểm điểm. Bác cho em xoá đi cái chữ Xí Nam – Xí Nữ ở cửa thay bằng chữ khác nhé! Tuỳ chú, muốn làm gì thì làm nhưng đừng vứt của tôi đi là được. Bà nội lên cơn mình mẩy.


Ngay hôm sau, tự tay Trần Phóng mang vôi bệt trắng hai cánh cửa gỗ của xí hai ngăn, xoá tiệt đi Xí Nam – Xí Nữ, nung dùi nóng rẫy khắc vào nền trắng, nguyên văn: NHÀ XÍ XHCN. NHÀ XÍ nằm bên cánh cửa Xí Nam cũ, XHCN bên Xí Nữ. Chết cười!


Cụ Cam đi xia ban sáng theo thông lệ, nhướng mắt lầm bầm, mẹ tiên sư quân bố láo. Rồi khua gậy về thẳng. Xà cột, Na ti ô nan đung đưa. Từ đó tịnh không thấy đáo đi xia, ai cũng nhớ nhung vì không thấy bóng dáng. Tưởng cụ ốm, vài đứa đến thăm, cụ nhắn bảo đi xia riêng ở nhà, chán chả thèm sử dụng của chung. Cụ khoe, con giai cụ gò cho cái bô bằng tôn gỉ sâu đến ba gang tay đặt cạnh chuồng bò, bắc gạch chỉ thành tam cấp cho đi, thuận lắm. Vẫn ngày ba bận, sau mỗi bận lại rắc tro lên, tháng đổ đồng một lần, rất tiện.


Cụ Cam thọ đúng trăm tuổi, chết ngày 3 tháng 2 năm 2006. Xí hai ngăn đập trước đó sáu năm. Hai cánh cửa chẻ củi đun cám lợn cháy cái phèo. Mục ruỗng hết rồi.







Thứ tư, ngày 09 tháng năm năm 2012

Ị ĐỒNG - QUẸT ĐÓM





Bài 1- Chương 4, số này đen, kiêng!


Nói không ngoa, hết vụ Lãng, rồi tới vụ Park, thì bệnh mới phát tiết đến độ …hoàn hảo.
Sàm nhảm Diện điên Lập chập, vô thiên lủng hóa hoang tưởng, Linh nức nở đòi đất vỡ, Thảo phấn chấn ước cả làng Xuân Quan hóa tặc. Nói thật, về đấy mà bi bô giọng đó thử coi, anh hùng nữ hiệp đâu chưa thấy, thấy mồm miệng rộng toang hoác vì răng giảm biên chế là cái chắc! Chả phải do “hàng ngàn công an trang bị tận răng”, cũng đếch phải “dùi cui súng đạn”, đừng tưởng bở! Chả rỗi!


Được đà Lãng, cứ thế tới, chương chương, lớp lớp.


Chương 1, kêu gào đền bù.


Văn nhân văn sĩ tri thức đủ các loại lều chõng nhất loạt kêu ca chính quyền, doanh nghiệp đền bù rẻ mạt, tham ô tham nhũng, sào ruộng một năm kiếm tiền tỉ, đền đôi cọc đôi đồng, công bằng đâu đâu đâu? Lương tri đâu đâu đâu?


Bụp phát tòi lòi ra, Park là chú duy nhất trong số gần 900 dự án của Hưng Yên có đất dịch vụ, bù cho mất đất ruộng not thổ cư, đền bù hỗ trợ kịch khung, hàng trăm dân Văn Giang thay vì ngày ngày theo đít trâu ra ruộng, giờ mặc đồng phục ngon lành tỉa hoa rửa lá, sáng chiều như công chức, lương không chậm một ngày, không thiếu một đồng, nhà nhà đua nhau gửi con gửi cái vào Park.


Bụp phát nữa, lòi ra, tưởng đất đâu, đất Xuân Quan ruộng đa phần đang cho nhau thuê trao tay lại với nhau, chưa đầy 400k cụ một sào/năm, hehe.


Đất dịch vụ giá đảo thùm thụp, sôi động còn hơn cả Park.


Nín tịt, lờ không được thì nín tịt, chuyển chương.


Chương 2, quy định, thủ tục.


Không tuyên truyền, không “họp bàn” với “nhân dân”, “khiếu kiện bao nhiêu năm” nhưng “không ai giải quyết”…


Bụp phát tòi lòi ra, xấp xỉ hơn 10.000 (4 số không) bộ tài liệu “ văn bản pháp lý liên quan  GPMB” chia làm từng đợt đã được phát tận tay, quy hoạch chi tiết dự án to đùng đoàng dán ngay trước cổng UB huyện từ xa lơ xa lắc, hàng trăm biên bản họp dân công khai còn lưu trữ, Thanh tra cấp nhà nước vào hết cuộc này đến cuộc khác, Tướng thủ kết luận nhát này qua nhát khác, tất cả các sở ngành của tỉnh theo phân công lần lượt đều trả lời thắc mắc của dân từ đời …tám hoánh! (tất nhiên là bằng văn bản)…


Đuối, câm tịt, chuyển chương. 


À, nói thêm, trong mục 10.000 cuốn tài liệu kia, có văn bản được phô tô kheo khéo tí, rồi làm tí sốp này nọ, chuẩn bị cho chương 3.


Chương 3,  đến mục Ba.


Chương này miễn bàn, vì cười quá lố sợ phụt mẹ dắm giữa hội nghị thì bỏ bố!.


Ái ngại cho ông lùn rậm râu trọc đầu, siêu sao chim gái. Vụ Lãng đi đúng “tinh thần chỉ đạo” bỗng hóa anh hùng, vụ này chệch hướng, y rằng ăn đủ!


Ái ngại cho hot girl 80 xoan liêm chính, niu bờ lốc gơ mới nổi, đi đâu cũng xách cặp đen như … tiến sĩ, đám nào cũng đặt đít bằng được, phịa được quả “mắng nhát có đôi cháu tre trẻ đã khóc”???, chả khác gì em Hằng Bùi tự sướng có anh gì gì tương tư đến độ “bàn giao an toàn em cởi áo qua cầu gió bay”???, hãi!


Ái ngại cho các cụ, hở ra là ký, không ký nó cũng mời ký, hở ra là tuyên bố, y hệt tính dỗi hờn ăn rồi nói chưa, ký thì sung thôi vì tràng giang đại hải còn văn được, ngoáy phát ăn thua gì, nhưng ác ôn, ký mà chả biết mình ký gì, ký vung vẩy như điếu cày ủy ban, bao la như phò hợp tác xã!


Còn món nhiệt liệt tương cả họ tên chức vụ giáo sư tiến sĩ nhà thơ, lều văn già trẻ nữa mới vãi, chật ních mạng!


Bệnh, chống thành bệnh. Đưa dân đen ra để ngụy trang cho cái bệnh của mình, rặt mất dạy!
Bí, nhưng nhỡ rồi thì cố thôi, thà cố xây, khó nhưng còn được, còn cố phá thì nhanh, mấy chốc, nhỉ? nhanh gì thì nhanh!


Chương 4, số này đen, kiêng!


Nhìn hình ông tiến sĩ Háng nôm vận quần đùi chim cò, vất vả “trong vai một đôi vợ chồng trẻ” về tận ruộng đồng Văn Giang, Hưng Yên để rồi tung lên mạng một loạt bức ảnh “xương người bị đào bới” gây “phẫn uất, căm phẫn trong dư luận”, mình cứ ngồi tần ngần, buồn ít, cười nhiều, và … muốn chửi thì cực nhiều.


Bài 2: vô phúc! 





Điều đầu tiên mình muốn chửi, là cái đám “dân oan” mặt mũi kín bưng của cái xã Xuân Quan kia, cái đám mà trong hàng loạt hình của ông Tiến sĩ cũng không có “dân” nào rõ mặt cả. Cứ cho là hài cốt tổ tiên bị đào xới đi chẳng hạn, thì hà cớ chi, cứ phải đợi ông tiến sĩ về rồi mới dắt díu nhau ra đồng, bới phát trúng ngay, thắp hương chụp ảnh, bài bản như thế!


Tổ tiên nào dung thứ cho cái loại con cháu vô luân như thế, chúng mày nỡ để tao nằm giữa nắng gió triền miên như thế, chỉ để đợi một thằng đâu đâu về rồi mới xun xoe ra đồng bới móc à, thắp nén hương cũng chụp hình lấy được!


Mình xem hình, mình cứ nghĩ, nếu những mảnh hài cốt kia là thật, thì đúng là vô phúc cho dòng họ nào có đám con cháu “đổ máu để đòi lại đất hương hỏa của tổ tiên” như thế, cũng may mà anh tiến sĩ về sớm, chứ giá như anh bận biên bài tung hô chiến thắng cho chị Hằng Bùi nào đó vừa được xuất chuồng, thì thôi thôi các cụ ơi chịu khó nằm đấy nữa đi nhé, nắng mưa như thế đã gì???




Còn, nếu như những hài cốt kia là giả, tức là cái đám con cháu kia sẵn sàng tạo ra những bộ hài cốt đểu của tổ tiên, chỉ để chụp hình, thì …


Và đến ông tiến xĩ, cứ cho là ra đồng “tìm hài cốt các cụ” mà nhơn nhơn ăn mặc bố láo, quần lửng lòe loẹt, phải tay ai, chứ phải tay mình, ăn vận như thế, mà lăng xăng chuyện nghiêm túc, mình vả cho gẫy răng!


Vô học đến thế là cùng, thế mà cũng trơ trẽn trưng hình lên mạng lấy được!


Nói thế, cứ đưa hết khả năng ra mà luận như thế, chứ mình tin, nếu việc kia là thật thì đám “dân” đó nó để yên cho đã may, chẳng cần phải ông tiến xĩ dạng háng về làng, mới thút thít bịt khẩu trang ra đồng nức nở.


Nói thế, đến nay, theo mình biết, chưa hề có một hộ dân nào ở Xuân Quan, kêu ca về việc mộ người thân của mình, bị đào xới nhầm trong cưỡng chế.


Chống, chống đến mức độ ngụy cả hài cốt tổ tiên để chống.


Làng Xuân Quan người ta sẽ nghĩ gì? Dân Xuân Quan người ta sẽ nghĩ gì? Hỡi đám “dân lành như củ khoai” kia? Và hỡi ông tiến xĩ quần lửng chích chòe kia?


Về thẳng Xuân Quan mà hỏi, đừng đánh võ tù mù, thơ ca rườm rà lắm!


 Bài 3- mình chịu.





Mình rất thích ký, ngày bé thi thoảng cứ lục tài liệu của bố mẹ để xem chữ ký rồi loay hoay bắt chước, cũng xoay xoay vài vòng như lò xo rồi hất ngược một phát, oai phết.


Lớn biết yêu một tí, suốt ngày hý hoáy tập ký theo kiểu gắn tên mình với tên cô bạn gái, ký xong hỉ hả len lén mượn tập sách tập vở của cô nàng, ngoáy vào đó một phát, về âm ỉ sướng đôi ba ngày chưa dứt.


Ra đời, lần đầu tiên được ký cái chữ ký của mình trong công việc, rồi sau đó là trong bản án chung thân với vợ mình bây giờ, cảm giác lâng lâng thiêng liêng phết, không đùa được.


Ký rồi thì chấp nhận đau thương thôi, ngậm bồ hòn làm ngọt thôi, bút sa gà chết mà.


Bởi vậy, nói không ngoa, mình xem chữ ký như là …của quý của mình vậy, giữ gìn, không ký bừa ký bãi, nơi nào đáng ký mới ký, tào lao bốc phét thì vô tư, nhưng mỗi lần bắt buộc phải đặt chữ ký của mình vào, thì phải tìm hiểu thật cẩn thận, chắc chắn. Bởi vì đó là hình ảnh, là danh dự, là trách nhiệm của mình, không đùa được.


Thời buổi nhiễu nhương, có nhiều điều làm mình hoang mang, nhưng một trong những điều mình mắt thấy tai nghe nhiều nhất, làm mình hoang mang nhất, lại là chuyện …chữ ký của quý, thế mới lạ.


Hoang mang, vì đối tượng mình đang muốn nói đến, toàn là những người có học hành bài bản, có địa vị trong xã hội, toàn nhà văn nhà thơ nhà sử học nhà dịch thuật nhà thi sĩ nhà họa sĩ… đủ thứ kiểu nhà, chòi, lều trên đời.


Nếu họ, đang là một lâu đài nguy nga lộng lẫy về tuổi tác, về địa vị xã hội, thì mình, chả khác gì một túp chòi tranh dựng vội vậy, không hoang mang mới là lạ.


Các vị đó ký, hôm qua ký, hôm nay ký, làm cốc trà đá vào rồi ký, làm cốc bia cỏ vào rồi ký, cảm tưởng như các vị mót ị quá đang ngồi trong toilet không nghĩ ra cách gì, ngoáy ngoáy phát rồi tấm đắc nhìn cái đống lò xo của mình vừa “phóng bút” thì mới trị được căn bệnh táo bón kinh niên của tuổi tác vậy. Ký xong, tung lên mạng, nhoay nhoáy phát rồi rủ nhau đi làm cốc bia cỏ, luận rôm rả xem chữ ký của mình như nào, đặng …ký tiếp.  Hồi trước nếu như mình còn tò mò tìm xem thử, chữ ký ông này như thế nào, ông kia như thế nào, rồi ngồi nhìn chữ ký luận thử thế này thế nọ, thì bây giờ mình thật sự hoang mang và phát ngán, chữ ký của các bậc học giả học thật học đại khái tràn lan trên mạng, nào giáo sư tiến sĩ, nào nhà thơ nhà văn, nào dịch thuật này nọ,

“Nhân sĩ trí thức Việt Nam ra tuyên bố blah blah"


Hết “nhân sĩ trí thức” ký theo kiểu “sinh hoạt tập thể” chống bu xít, rồi đến đòi oánh nhau với Tung Của, đến “tuyên bố Văn Giang”, khiếp, sức đâu mà ký, mà hủ hóa tập thể với nhau hăng thế nhỉ? Dễ thế nhỉ?


Mình mà, chữ ký như của quý, đẻ mình ra cha nhìn mình rồi cười khà khà ngửa mặt lên giời cảm ơn ông giời, cảm ơn tổ tiên, cảm ơn mẹ mình, cho ông một thằng cu hoành tráng, thế thì không thể nào mình cho cái của quý của mình, bạ đâu chọc đấy được.


Vợ mình đọc bản “sinh hoạt tập thể” của các cụ, nhìn vào toàn các cụ đẻ lâu dzồi như Chi giáo sư, Toàn nhà giáo nhà viết sách, rồi ông gì vừa hói vừa lùn nhưng viết Đất nước đứng lên bên bờ Hồ chửi Trung Quốc í, vân vân và vân vân,  thị hỏi, ký không? Mình trả lời thôi nhường các cụ, có tuổi rồi, chim cò khấu hao hết rồi, giữ gìn cũng bằng không. Ông thì dí vào, ông để dành bu em, nhỉ?


Vợ mình cười hi hí, má thị hồng hồng.


Mình nhìn dãy danh sách các “nhân sĩ tri thức” ký hồ hởi theo lối sinh hoạt tập thể, mình thừa biết có những vị, thơ ca lập luận trên giời giới bể, nhưng nửa dòng thông tin về vụ việc mà các vị đang ngoáy ngoáy lò xo vào đó, thì tịt ngóm, thế mà các vị cũng ký thùm thụp, quả là chí khí hơn người.


Mình chịu. Chim mình, chứ có phải chim hợp tác xã đéo đâu!@bài của con DG, trên DG blog

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang