Chủ Nhật, ngày 27 tháng 7 năm 2014

SỐC & ĐỘC # 67



Nhiệt liệt, nhiệt liệt, nhiệt liệt...( quán triệt hô to ba lần)



Chuẫn đéo phãi chĩnh.



Hà nội mùa chim...chạy lụt:))



Haizz, mắt rung dái run:))



Muốn nhanh thì phải...từ từ.



Hung thần làm xiếc.



Các " rận chủ " đang xếp hàng chờ...phong thánh.



Chuyện tình Tư & Tin.



Đuỵt cụ, xuých đu...có đinh:))



Thèm tiền lại thèm cả lôn. Kể ra kín đáo cũng chôn cái dùi ( cui à nha:)).



Trẻ không tha, ma ( nơ canh) không thương.



Tượng Phật đứng gác tượng đài. Bên hông có đứa đái khai quần đùi. ( ảnh chập ở nghĩa trang Hàm Rồng - Thanh Hóa)



Dựa lưng - quay đầu - chịn phao câu:))



Bướm đậu yên xe & Ong ve các loại.



Khoán 10 ở mặt trận giải trí.



" Bầu" vừa rụng rốn, " mướp" đương hoa:))



Khà khà đậu má các anh. Yêu quá:)) ( ảnh chập trong vườn...bách thú)



Xôi nghiêng về đội...cóa xôi:))



Được mùa:))

Nguồn: nhặt trên NET.



Thứ Năm, ngày 24 tháng 7 năm 2014

GIÀ RỒI NÊN PHẢI ĐI THÔI



Thiển nghĩ em Huyền xách mỗi quần chíp mà đi khắp thế gian thì hà cớ gì một trung niên bùa bựa trên dăng dưới dái lại không thể? Gần 40 xuân mà đời héo quá, xê dịch một tý xem có tươi ra. Thế là tôi quyết xiên Vịt một phen cho thỏa.

Khởi vào ngày chúa nhật 27/7/2014. Nhằm ngày binh thương sĩ liệt. Nhiều đứa bảo ngày xui nhưng tôi bảo đảng chọn thì thánh lắm.


Lịch trình dự kiến như sau:


Ngày 1: Khởi lúc 14h30 từ Hà nội, tối ngủ Thanh Hóa
Ngày 2: Sáng Thanh Hóa - Vinh. Chiều thẳng tiến Quảng Bình
Ngày 3:Quảng Bình – Đà Nẵng
Ngày 4: Đà Nẵng - Quảng ngãi – Đảo Lý Sơn
Ngày 5: Lý Sơn
Ngày 6: Lý Sơn – Quy Nhơn
Ngày 7: Quy Nhơn – Nha Trang
Ngày 8: Nha Trang
Ngày 9: Nha Trang – Mũi Né
Ngày 10: Mũi Né – Sài Gòn
Ngày 11: Sài Gòn
Ngày 12: Sài Gòn – Cần Thơ
Ngày 13: Cần Thơ – Cà Mau
Ngày 14: Cà Mau
Ngày 15: Cà Mau -Sài Gòn
Ngày 16: Sài Gòn - Hà Nội. (Xe gửi lên Tầu hỏa)
Nếu có thời gian sẽ chạy ngược ra theo đường HCM.

Nếu anh em nào có duyên thì gặp nhau trên đường thiên lý. Các tình yêu trót hẹn hò vui lòng gởi lại số a lô. Từ nay đến hôm đi bài sẽ không được biên lên Lốc nhưng bọn con bò có thể hóng bên Phây. 


Và đây là Chiến mã 3 chân Xít - đờ - ca đời Mãn Thanh năm Mãn Kinh 1973.



Còn đây là con Phò mã há há đồng hành.



Xin được nói lời tạm biệt sớm để dành thời gian cho những lo toan du hý dặm dài. Bái bai...


Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

ĐẢNG VIÊN KHÔNG NÊN ĂN THỊT CHÓ.



Em năm nay chẵn 35, đảng viên từ hùi đại học. Trường em khí danh giá, chuyên dạy người ta thói lên lớp đoan trang và ngớ ngẩn truyền kỳ. Như người ta học ra phải cố đu lấy thành phố mà lo đường sự nghiệp hoặc bét nhất vơ vét cái hộ khẩu thượng lưu. Đằng này em không, chui tọt lên miền núi, một tỉnh heo hút, nghèo như định mệnh cuốc gia. Em thuyết, mình chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ đổ cho ai? Rồi rằng thì là mà đảng viên phải tiên phong đi trước cho làng nước ì ạch theo sau. Thấm nhuần lắm!

Lên miền núi em đủi tên. Đang từ cái tên Kinh tịch đẹp như sen như súng em đủi mẹ thành Lù Thị Lu. Em lại thuyết, mình ăn ở với đồng bào thì cũng nên lấy một cái tên sao cho gần gũi, tiện cho nhiều bề. Ái chà chà, đéo mẹ, ghê thật. Nhiều bận tôi hay trêu nhẽ em có họ hàng với Lù Chóng, trưởng bản Phá Mả trong cái thiên Phượt hành đại bại mà tôi lỡ dại biên ra. Em cười như ma bẩu ban đầu định lấy tên là Lò Thị Tôn cơ, nhưng trong một đêm ngẩn ngơ định mệnh thần Thông Minh Đột Xuất mách em là không nên, khà khà. http://www.photphet.info/2012/04/phuot-hanh-ai-bai.html

Có tí chuyên môn lại thêm sự tăng cường tính đảng nên chỉ vài năm em đã là hiệu trưởng một trường. Rồi em yêu. Một anh toọc ít chữ nhưng cơ bắp và cần mẫn như máy cày. Ngữ này thì địt dai như mưa rừng, trường kỳ như vắt bám. Ấy là tôi đoán thế chứ em bảo đến giờ em hãy còn tân. Tôi thất kinh và nghĩ đó là chuyện hoang đường và nếu có thật kiểu gì cũng phải đề nghị nguyên thủ cuốc gia sắc cho cái khả phong tiết hạnh. Nhưng khi nghe em kể trước lễ vu quy dăm bữa anh toọc kia phấn khích quá mà đi uống diệu, trên đường trở về với tình yêu thì thăng một phát xuống vực sâu. Thế là tèo tốt và em để tang cho cuộc tình tự bấy đến nay. Em lấy làm tự hào về điều này nên mỗi lần diệu say lại ve vẫy ngón cái có đeo chiếc nhẫn rồi hồ hởi " biết là gì đây hem?". Có ai đó lắc thì ngay lập tức em gật gù kể. Xót xa lắm. Tôi thì cứ nom đầu ngón cái to như đầu rắn mà chiếc nhẫn lại bé tin hin thì đoán ngay ra là tình yêu kia phải nhớn nhao lắm. Nhớn đến độ em chẳng buồn để tâm đến ai nữa ngoài việc cắm đầu vào trọng trách được giao dù giai có nhiều như xôi buổi sáng. Và dường như để cố quên nên một ngày đẹp giời em lẩn từ làm giáo chuyển sang làm báo, một tờ của đảng bộ địa phương mà chức năng chính là để cho đồng bào đùm măng khô và thịt lợn. Em phụ trách mảng xây dựng đảng, chuyên trị mục bê gạch xách hồ, hố hố...

Làm báo em có dịp đi đó đi đây, gặp đủ hạng từ mặt dày cho đến đầu chày đít thớt. Tác phong em đĩnh đạc hẳn ra, ăn nói bắt đầu la đà nghị quyết. Nhiều người thoạt tiên mới gặp cứ nghĩ em hâm nhưng tôi quen rồi nên nghĩ nhẽ em có tí lâm dâm sinh lý. Bí thì nó thế chứ hâm cái đít em đây này, nhề?

Thi thoảng em hay về Hà nội, bận mịt mù từ sáng tới đêm. Tôi không hiểu là việc gì nhưng nghe em bảo là tuyền họp, tinh những cuộc quan trọng. Phải rầu, làm báo đảng, lại phụ trách phần cứng cựa thì họp nhiều là phải. Mà nhẽ không họp thì cũng chả biết làm đéo gì? Là tôi bố láo bố xiên thế. 

Tôi thi thoảng cũng hay lượt phượt vùng cao, chuyến nào cũng đảo thăm em tý chút. Được em dẫn bản xem xòe, bốc đồn giao liu biên phòng say khướt. Lại còn gửi 3 cùng ở nhà ông bí thư có cái tên rất kinh hồn Sùng Đại Du mà mỗi lần cất lên tôi đều cười khèng khẹc. Tôi cảm cái ơn đó lắm nên mỗi lần em về Hà nội là cố săn đón để giả cho bằng xong. Ấy nhưng nào được.

Hôm nọ, đúng hôm cơn Thần Sấm trút mưa gió tơi bời thì em gọi tôi, nói đang ở Hà nội. Tôi hỏi, lại đang họp à? Em bảo lý ra là thế nhưng mưa bão nên những cuộc họp không quan trọng tạm ngưng để tưng bừng chống bão. Việc của em là xây nên chả biết chống cái đéo gì đành nằm khách sạn mà than van cô lẻ. Tôi dối vợ đội mưa đến chỗ em, túi găm trộm chay Uýt - ky thượng hạng.

Tôi đốt một cây nến trong phòng, bắt lễ tân mua mấy bông hồng tươi nhưng chúng bảo mưa gió nên không có. Tôi gỡ chùm lan giả treo tường biện ra bàn rồi nhúc nhắc rót diệu vào hai cái ly người ta hay dùng uống bia hoặc nước lọc. Chúng tôi nâng sóng sánh ngang tầm mắt, leng keng như sự hạnh ngộ trăm năm. Ngoài kia mưa như gào.

Các bạn hình dung việc gì sẽ xảy ra? Giao cấu thôi chứ còn gì nữa. Nhất là trong cái hoàn cảnh vửa trữ tình lại vửa trớ trêu và đặc biệt hơn cả là trước một đảng viên trinh tiết. Nhưng đâu có dễ thế. Tôi nốc thêm mấy lon bia nữa trong tủ lạnh để gia cố cái khí độ đàn ông nhưng vưỡn không ăn thua. Người tôi nhũn cả ra ngoại trừ cái " của nợ" gân cổ lên cãi giả. Quả thật đứng trước cái tiết hạnh tuổi 35 người ta không toát mồ hôi mới lạ.

Vần vũ mãi thì dái teo vì mệt. Em co chân ngồi một góc vê gấu áo khóc hờ. Tiếng khóc vửa như oán giận vửa như tiếc của. Tôi thì kệ mẹ, chả nước non đếch gì, phí hết cả buồi. Tôi đạp cửa xắc quần vẫy đít đi về trong mưa gió. Lòng tủi hờn khôn nguôi.

Cái số tôi trường kỳ đen đủi thế. Đen tới mức đít ấm nhôm mà có mồm thì nó chửi cho như bá ngọ. Tôi không giấu gì cái nết lang chạ vẩn vơ nhưng trước một đảng viên trinh tiết thì không phải vận may lúc nào cũng có. Tôi quyết đi giải đen vào sáng hôm sau. Và tất nhiên bùa là lá mơ và thần chú là thịt chó.

Phải dễ đến gần chục năm tôi không xơi món chó. Chả phải đạo đức hay học tập tấm gương gì đâu mà đơn giản là tôi không thích. Nhẽ thế mà đời đen chăng? Tôi ngồi thâm canh một mình. Ngoài kia mưa vẫn như gào.

Em gọi. Nghĩ lại chăng? Hay trách móc? Không, em nói lời từ tạ. Tôi bảo mưa gió về làm sao. Em nói ở lại cũng chẳng biết làm gì. Tôi gạ ra ăn chó. Em rống lên, đảng viên không nên ăn thịt chó.

Phải rầu, có đen là đen cái quần chúng như tôi. Đèo mẹ...


Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

THỞ THÔI, ĐÃ THỐI.


Bài khá hay của GS Nguyễn Văn Tuấn, ĐH New South Wales, Australia. Tôi dẫn về để bọn con bò có cái ăn mà ỉa vầu miệng tủ lạnh. Tít tôi giật lại.

Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có trích trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó. Chẳng hạn như khi nói về những việc làm liên quan đến tai nạn máy bay MH17, thủ tướng Úc nói “Mục tiêu của chúng ta là đảm bảo phẩm giá, sự tôn trọng, và công lí cho người quá cố và người đang sống.” Đó là một câu có thể trích dẫn.

Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc. Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:

Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Có thể nói rằng thói quen phát biểu chung chung là đặc điểm số 1 của chính khách VN, họ không có khả năng nói cái gì cụ thể, tất cả chỉ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ví dụ như phát biểu “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.” Đọc xong đoạn văn chúng ta chẳng có thông tin nào, mà tất cả chỉ là những rhetoric tầm thường, giống như những khẩu hiệu được nối kết với nhau. Chúng ta cũng không có thêm thông tin, ngoại trừ một chữ rất chung chung là “phức tạp”. Hai chữ “phức tạp” có thể nói là rất phổ biến ở VN, đụng đến cái gì họ không giải thích được, không mô tả cụ thể được, thì họ bèn thay thế bằng hai chữ “phức tạp” mà chẳng ai hiểu gì cả. Cả một đoạn văn 74 chữ, chúng ta không thấy một ý nào cụ thể và không thể trích dẫn bất cứ câu nào.

Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này là bài nói chuyện nhân kỉ niệm 40 năm ngày kí Hiệp định Paris: “Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.” Chú ý những chữ “mốc son”, “sử vàng”, “mặt trận ngoại giao”, tất cả đều là những sáo ngữ. Có một loại sáo ngữ khác là chúng mang tính tích cực nhưng không có ý nghĩa thực tế. Ví dụ như bài diễn văn nhân dịp kết thúc một đại hội đảng, có đoạn: “Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển …. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy.” Chúng ta chú ý thấy nào là “phát triển”, “phát huy”, “hiệu quả thiết thực”, nhưng vì chúng không có một dữ liệu cụ thể nào nên tất cả chỉ là rỗng tuếch về ý nghĩa. Thật vậy, đọc xong đoạn phát biểu này chúng ta không thấy bất cứ một điểm cụ thể nào để nhớ hay để làm minh hoạ. Chẳng có một ý tưởng nào để đáng nhớ.

Một trong những sáo ngữ chúng ta hay thấy trong các bài phát biểu là “đánh giá cao”. Ví dụ như “tôi cám ơn và đánh giá cao bài phát biểu rất tốt đẹp của Ngài Thủ tướng Hà Lan”, “tôi đánh giá cao và chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Chính phủ …”. “Đánh giá cao” hình như là một thuật ngữ đặc thù xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn sống sót đến ngày hôm nay. Thoạt đầu nghe qua “đánh giá cao” thì cũng hay hay, nhưng nghĩ kĩ thì thấy câu này chẳng có ý nghĩa gì cả. Thế nào là đánh giá cao, cao cái gì? Tôi thấy nó là một sáo ngữ cực kì vô duyên và vô dụng.

Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo VN quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu. Do đó, có khi đọc xong một đoạn văn chúng ta chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chẳng hạn như phát biểu về hiến pháp, ông chủ tịch QH nói: “Chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người trong các tầng lớp nhân dân và ngay một số ĐBQH cũng còn ý kiến khác. Tuy nhiên tuyệt đại nhân dân và Quốc hội có thể khẳng định đã đồng tình cao với bản Hiến pháp thông qua lần này. Với quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, chúng ta đã thể hiện được đại đa số nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội với tinh thần làm chủ của nhân dân, chúng ta sẽ biểu quyết theo tinh thần đó.” Câu cú và cấu trúc ý tưởng chẳng đâu vào đâu. Lúc thì quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, lúc thì nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội, lại còn đèo theo một câu “tinh thần làm chủ của nhân dân”. Câu chữ cứ nhảy nhót loanh quanh, chẳng đâu vào đâu, và cuối cùng là chẳng có gì để nói!

Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo VN chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau. Có những khẩu hiệu quá quen thuộc nên chẳng ai chất vấn tính chính xác của nó. Ví dụ như câu “Trong niềm tự hào, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới …”, có lẽ chẳng ai để ý đến chữ “danh nhân văn hóa thế giới”. Nếu người bình thường phát biểu như thế thì chắc người ta cũng lắc đầu bỏ qua, nhưng lãnh đạo mà phát biểu như thế thì chẳng có gì sáng tạo, chỉ lặp lại những câu chữ đã có trước đây.

Một loại ngôn ngữ khẩu hiệu khác mang tính tự hào. Tự hào là một “đặc sản” của các vị lãnh đạo VN, đi đâu cũng nghe họ nói về tự hào. Điều này cũng hiểu được, vì làm lãnh đạo thì phải gieo niềm tự hào vào người dân. Nhưng gieo không đúng chỗ và gieo mãi thì có thể trở thành phản tác dụng. Thử đọc bài diễn văn có đoạn “Chúng ta tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về những con người giản dị bằng những việc làm tốt của mình ở mọi lúc, mọi nơi đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam; góp phần quyết định để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.” Tôi tự hỏi có cần quá nhiều tự hào như thế. Đất nước anh hùng, con người anh hùng, vẻ đẹp văn hoá, v.v. nhưng tại sao đất nước vẫn còn nghèo và phải “ăn xin” hết nơi này đến nơi khác và ăn xin kinh niên, con người vẫn còn đứng dưới hạng trung bình trên thế giới. Thay vì tự ru ngủ là anh hùng và giàu mạnh, tôi nghĩ lãnh đạo phải nói thẳng và nói thật là đất nước vẫn còn rất nghèo, tài nguyên chẳng có gì, và cả nước đang phải đương đầu với ngoại xâm.

Thứ năm là loại ngôn ngữ hành chính hoá. Nếu chú ý kĩ chúng ta sẽ thấy phần lớn những bài nói chuyện, bài diễn văn các lãnh đạo đọc là họ nói với đảng viên, với quan chức, công nhân viên, với quân đội, v.v. chứ không phải nói với người dân. Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ của họ thường mang tính hành chính. Có những chữ mà hình như họ sử dụng quá nhiều nên chẳng ai để ý ý nghĩa thật của nó, như “Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.” Đối với người dân bình thường, ít ai hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là cái gì. Có thể nói đó là những ngôn ngữ xa lạ đối với người dân.

Những bài diễn văn của các chính khác phương Tây thường rất sinh động, thực tế, và có khi … vui. Khán giả cảm thấy gần gũi với diễn giả. Ngược lại, những bài diễn văn của lãnh đạo VN thường cứng nhắc, công thức, và lúc nào cũng tỏ ra hết sức nghiêm trọng (dù sự việc chẳng có gì nghiêm trọng). Khán giả nghe họ đọc hơn là diễn. Một phần có lẽ do lãnh đạo VN chưa quen với văn hoá hài, và họ cũng muốn tỏ ra là người quan trọng. Dù gì đi nữa thì những bài nói chuyện của lãnh đạo VN rất khó gần với người dân do ngôn ngữ cứng đơ và kém thân thiện, và cách họ triển khai bài nói chuyện quá xa rời công chúng.

Dĩ nhiên, những đặc điểm này không phải là độc quyền của các lãnh đạo VN, mà thỉnh thoảng các chính khách phương Tây cũng vướng phải. Khi họ vướng phải, người dân biết vị chính khách đó có vấn đề, hoặc là không nắm vững vấn đề, hoặc là lúng túng. Vì không nắm vững vấn đề nên họ nói chung chung. Có người nghĩ nói chung chung là nói “đa tầng”, nhưng thật ra đó chỉ là cách nguỵ biện thô thiển. VN nói về hội nhập quốc tế, nhưng với loại ngôn ngữ đặc thù XHCN trên đây, tôi nghĩ các lãnh đạo VN sẽ rất khó gần với lãnh đạo thuộc thế giới văn minh.
Thứ Bảy, ngày 19 tháng 7 năm 2014

SỐC & ĐỘC # 66



Nhớ bác lòng ta trong sáng hơn?



Sự bứt phá của nền giáo dục An-nam.



Hóa ra ông Tiên là có thật. Tiên nhân ông hehe!



Trà đá lại có goai - phai. Tha hồ mà chém ngày dài... ngắn đi.



Siêu bảo vệ hế hế...



Và đây là...siêu bị cáo.



Xe ưu tiên.



Và xe chở tiền.



Kamikaze phiên bản Lừa.



Thợ nò & Đất mỏa.



Hồn ai nấy giữ.



Thành tựu của nền kinh tế có đuôi ( XHCN)



 Hai bờ chiến tuyến.



Lý thuyết luôn xám xịt, cây đời mới xanh tươi.



Ngoan là phải...ngu!



Đường về còn xa.



Thân lừa ưa nặng.



Vòng đo sinh tử.



Siêu trọc.



Và siêu bẹn.



Và siêu nhân.



Còn đây là siêu bựa.


Nguồn: nhặt trên NET.

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang