Thứ Năm, ngày 24 tháng 7 năm 2014

GIÀ RỒI NÊN PHẢI ĐI THÔI



Thiển nghĩ em Huyền xách mỗi quần chíp mà đi khắp thế gian thì hà cớ gì một trung niên bùa bựa trên dăng dưới dái lại không thể? Gần 40 xuân mà đời héo quá, xê dịch một tý xem có tươi ra. Thế là tôi quyết xiên Vịt một phen cho thỏa.

Khởi vào ngày chúa nhật 27/7/2014. Nhằm ngày binh thương sĩ liệt. Nhiều đứa bảo ngày xui nhưng tôi bảo đảng chọn thì thánh lắm.


Lịch trình dự kiến như sau:


Ngày 1: Khởi lúc 14h30 từ Hà nội, tối ngủ Thanh Hóa
Ngày 2: Sáng Thanh Hóa - Vinh. Chiều thẳng tiến Quảng Bình
Ngày 3:Quảng Bình – Đà Nẵng
Ngày 4: Đà Nẵng - Quảng ngãi – Đảo Lý Sơn
Ngày 5: Lý Sơn
Ngày 6: Lý Sơn – Quy Nhơn
Ngày 7: Quy Nhơn – Nha Trang
Ngày 8: Nha Trang
Ngày 9: Nha Trang – Mũi Né
Ngày 10: Mũi Né – Sài Gòn
Ngày 11: Sài Gòn
Ngày 12: Sài Gòn – Cần Thơ
Ngày 13: Cần Thơ – Cà Mau
Ngày 14: Cà Mau
Ngày 15: Cà Mau -Sài Gòn
Ngày 16: Sài Gòn - Hà Nội. (Xe gửi lên Tầu hỏa)
Nếu có thời gian sẽ chạy ngược ra theo đường HCM.

Nếu anh em nào có duyên thì gặp nhau trên đường thiên lý. Các tình yêu trót hẹn hò vui lòng gởi lại số a lô. Từ nay đến hôm đi bài sẽ không được biên lên Lốc nhưng bọn con bò có thể hóng bên Phây. 


Và đây là Chiến mã 3 chân Xít - đờ - ca đời Mãn Thanh năm Mãn Kinh 1963.



Còn đây là con Phò mã há há đồng hành.



Xin được nói lời tạm biệt sớm để dành thời gian cho những lo toan du hý dặm dài. Bái bai...


Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

ĐẢNG VIÊN KHÔNG NÊN ĂN THỊT CHÓ.



Em năm nay chẵn 35, đảng viên từ hùi đại học. Trường em khí danh giá, chuyên dạy người ta thói lên lớp đoan trang và ngớ ngẩn truyền kỳ. Như người ta học ra phải cố đu lấy thành phố mà lo đường sự nghiệp hoặc bét nhất vơ vét cái hộ khẩu thượng lưu. Đằng này em không, chui tọt lên miền núi, một tỉnh heo hút, nghèo như định mệnh cuốc gia. Em thuyết, mình chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ đổ cho ai? Rồi rằng thì là mà đảng viên phải tiên phong đi trước cho làng nước ì ạch theo sau. Thấm nhuần lắm!

Lên miền núi em đủi tên. Đang từ cái tên Kinh tịch đẹp như sen như súng em đủi mẹ thành Lù Thị Lu. Em lại thuyết, mình ăn ở với đồng bào thì cũng nên lấy một cái tên sao cho gần gũi, tiện cho nhiều bề. Ái chà chà, đéo mẹ, ghê thật. Nhiều bận tôi hay trêu nhẽ em có họ hàng với Lù Chóng, trưởng bản Phá Mả trong cái thiên Phượt hành đại bại mà tôi lỡ dại biên ra. Em cười như ma bẩu ban đầu định lấy tên là Lò Thị Tôn cơ, nhưng trong một đêm ngẩn ngơ định mệnh thần Thông Minh Đột Xuất mách em là không nên, khà khà. http://www.photphet.info/2012/04/phuot-hanh-ai-bai.html

Có tí chuyên môn lại thêm sự tăng cường tính đảng nên chỉ vài năm em đã là hiệu trưởng một trường. Rồi em yêu. Một anh toọc ít chữ nhưng cơ bắp và cần mẫn như máy cày. Ngữ này thì địt dai như mưa rừng, trường kỳ như vắt bám. Ấy là tôi đoán thế chứ em bảo đến giờ em hãy còn tân. Tôi thất kinh và nghĩ đó là chuyện hoang đường và nếu có thật kiểu gì cũng phải đề nghị nguyên thủ cuốc gia sắc cho cái khả phong tiết hạnh. Nhưng khi nghe em kể trước lễ vu quy dăm bữa anh toọc kia phấn khích quá mà đi uống diệu, trên đường trở về với tình yêu thì thăng một phát xuống vực sâu. Thế là tèo tốt và em để tang cho cuộc tình tự bấy đến nay. Em lấy làm tự hào về điều này nên mỗi lần diệu say lại ve vẫy ngón cái có đeo chiếc nhẫn rồi hồ hởi " biết là gì đây hem?". Có ai đó lắc thì ngay lập tức em gật gù kể. Xót xa lắm. Tôi thì cứ nom đầu ngón cái to như đầu rắn mà chiếc nhẫn lại bé tin hin thì đoán ngay ra là tình yêu kia phải nhớn nhao lắm. Nhớn đến độ em chẳng buồn để tâm đến ai nữa ngoài việc cắm đầu vào trọng trách được giao dù giai có nhiều như xôi buổi sáng. Và dường như để cố quên nên một ngày đẹp giời em lẩn từ làm giáo chuyển sang làm báo, một tờ của đảng bộ địa phương mà chức năng chính là để cho đồng bào đùm măng khô và thịt lợn. Em phụ trách mảng xây dựng đảng, chuyên trị mục bê gạch xách hồ, hố hố...

Làm báo em có dịp đi đó đi đây, gặp đủ hạng từ mặt dày cho đến đầu chày đít thớt. Tác phong em đĩnh đạc hẳn ra, ăn nói bắt đầu la đà nghị quyết. Nhiều người thoạt tiên mới gặp cứ nghĩ em hâm nhưng tôi quen rồi nên nghĩ nhẽ em có tí lâm dâm sinh lý. Bí thì nó thế chứ hâm cái đít em đây này, nhề?

Thi thoảng em hay về Hà nội, bận mịt mù từ sáng tới đêm. Tôi không hiểu là việc gì nhưng nghe em bảo là tuyền họp, tinh những cuộc quan trọng. Phải rầu, làm báo đảng, lại phụ trách phần cứng cựa thì họp nhiều là phải. Mà nhẽ không họp thì cũng chả biết làm đéo gì? Là tôi bố láo bố xiên thế. 

Tôi thi thoảng cũng hay lượt phượt vùng cao, chuyến nào cũng đảo thăm em tý chút. Được em dẫn bản xem xòe, bốc đồn giao liu biên phòng say khướt. Lại còn gửi 3 cùng ở nhà ông bí thư có cái tên rất kinh hồn Sùng Đại Du mà mỗi lần cất lên tôi đều cười khèng khẹc. Tôi cảm cái ơn đó lắm nên mỗi lần em về Hà nội là cố săn đón để giả cho bằng xong. Ấy nhưng nào được.

Hôm nọ, đúng hôm cơn Thần Sấm trút mưa gió tơi bời thì em gọi tôi, nói đang ở Hà nội. Tôi hỏi, lại đang họp à? Em bảo lý ra là thế nhưng mưa bão nên những cuộc họp không quan trọng tạm ngưng để tưng bừng chống bão. Việc của em là xây nên chả biết chống cái đéo gì đành nằm khách sạn mà than van cô lẻ. Tôi dối vợ đội mưa đến chỗ em, túi găm trộm chay Uýt - ky thượng hạng.

Tôi đốt một cây nến trong phòng, bắt lễ tân mua mấy bông hồng tươi nhưng chúng bảo mưa gió nên không có. Tôi gỡ chùm lan giả treo tường biện ra bàn rồi nhúc nhắc rót diệu vào hai cái ly người ta hay dùng uống bia hoặc nước lọc. Chúng tôi nâng sóng sánh ngang tầm mắt, leng keng như sự hạnh ngộ trăm năm. Ngoài kia mưa như gào.

Các bạn hình dung việc gì sẽ xảy ra? Giao cấu thôi chứ còn gì nữa. Nhất là trong cái hoàn cảnh vửa trữ tình lại vửa trớ trêu và đặc biệt hơn cả là trước một đảng viên trinh tiết. Nhưng đâu có dễ thế. Tôi nốc thêm mấy lon bia nữa trong tủ lạnh để gia cố cái khí độ đàn ông nhưng vưỡn không ăn thua. Người tôi nhũn cả ra ngoại trừ cái " của nợ" gân cổ lên cãi giả. Quả thật đứng trước cái tiết hạnh tuổi 35 người ta không toát mồ hôi mới lạ.

Vần vũ mãi thì dái teo vì mệt. Em co chân ngồi một góc vê gấu áo khóc hờ. Tiếng khóc vửa như oán giận vửa như tiếc của. Tôi thì kệ mẹ, chả nước non đếch gì, phí hết cả buồi. Tôi đạp cửa xắc quần vẫy đít đi về trong mưa gió. Lòng tủi hờn khôn nguôi.

Cái số tôi trường kỳ đen đủi thế. Đen tới mức đít ấm nhôm mà có mồm thì nó chửi cho như bá ngọ. Tôi không giấu gì cái nết lang chạ vẩn vơ nhưng trước một đảng viên trinh tiết thì không phải vận may lúc nào cũng có. Tôi quyết đi giải đen vào sáng hôm sau. Và tất nhiên bùa là lá mơ và thần chú là thịt chó.

Phải dễ đến gần chục năm tôi không xơi món chó. Chả phải đạo đức hay học tập tấm gương gì đâu mà đơn giản là tôi không thích. Nhẽ thế mà đời đen chăng? Tôi ngồi thâm canh một mình. Ngoài kia mưa vẫn như gào.

Em gọi. Nghĩ lại chăng? Hay trách móc? Không, em nói lời từ tạ. Tôi bảo mưa gió về làm sao. Em nói ở lại cũng chẳng biết làm gì. Tôi gạ ra ăn chó. Em rống lên, đảng viên không nên ăn thịt chó.

Phải rầu, có đen là đen cái quần chúng như tôi. Đèo mẹ...


Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

THỞ THÔI, ĐÃ THỐI.


Bài khá hay của GS Nguyễn Văn Tuấn, ĐH New South Wales, Australia. Tôi dẫn về để bọn con bò có cái ăn mà ỉa vầu miệng tủ lạnh. Tít tôi giật lại.

Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có trích trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó. Chẳng hạn như khi nói về những việc làm liên quan đến tai nạn máy bay MH17, thủ tướng Úc nói “Mục tiêu của chúng ta là đảm bảo phẩm giá, sự tôn trọng, và công lí cho người quá cố và người đang sống.” Đó là một câu có thể trích dẫn.

Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc. Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:

Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Có thể nói rằng thói quen phát biểu chung chung là đặc điểm số 1 của chính khách VN, họ không có khả năng nói cái gì cụ thể, tất cả chỉ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ví dụ như phát biểu “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.” Đọc xong đoạn văn chúng ta chẳng có thông tin nào, mà tất cả chỉ là những rhetoric tầm thường, giống như những khẩu hiệu được nối kết với nhau. Chúng ta cũng không có thêm thông tin, ngoại trừ một chữ rất chung chung là “phức tạp”. Hai chữ “phức tạp” có thể nói là rất phổ biến ở VN, đụng đến cái gì họ không giải thích được, không mô tả cụ thể được, thì họ bèn thay thế bằng hai chữ “phức tạp” mà chẳng ai hiểu gì cả. Cả một đoạn văn 74 chữ, chúng ta không thấy một ý nào cụ thể và không thể trích dẫn bất cứ câu nào.

Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này là bài nói chuyện nhân kỉ niệm 40 năm ngày kí Hiệp định Paris: “Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.” Chú ý những chữ “mốc son”, “sử vàng”, “mặt trận ngoại giao”, tất cả đều là những sáo ngữ. Có một loại sáo ngữ khác là chúng mang tính tích cực nhưng không có ý nghĩa thực tế. Ví dụ như bài diễn văn nhân dịp kết thúc một đại hội đảng, có đoạn: “Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển …. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy.” Chúng ta chú ý thấy nào là “phát triển”, “phát huy”, “hiệu quả thiết thực”, nhưng vì chúng không có một dữ liệu cụ thể nào nên tất cả chỉ là rỗng tuếch về ý nghĩa. Thật vậy, đọc xong đoạn phát biểu này chúng ta không thấy bất cứ một điểm cụ thể nào để nhớ hay để làm minh hoạ. Chẳng có một ý tưởng nào để đáng nhớ.

Một trong những sáo ngữ chúng ta hay thấy trong các bài phát biểu là “đánh giá cao”. Ví dụ như “tôi cám ơn và đánh giá cao bài phát biểu rất tốt đẹp của Ngài Thủ tướng Hà Lan”, “tôi đánh giá cao và chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Chính phủ …”. “Đánh giá cao” hình như là một thuật ngữ đặc thù xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn sống sót đến ngày hôm nay. Thoạt đầu nghe qua “đánh giá cao” thì cũng hay hay, nhưng nghĩ kĩ thì thấy câu này chẳng có ý nghĩa gì cả. Thế nào là đánh giá cao, cao cái gì? Tôi thấy nó là một sáo ngữ cực kì vô duyên và vô dụng.

Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo VN quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu. Do đó, có khi đọc xong một đoạn văn chúng ta chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chẳng hạn như phát biểu về hiến pháp, ông chủ tịch QH nói: “Chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người trong các tầng lớp nhân dân và ngay một số ĐBQH cũng còn ý kiến khác. Tuy nhiên tuyệt đại nhân dân và Quốc hội có thể khẳng định đã đồng tình cao với bản Hiến pháp thông qua lần này. Với quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, chúng ta đã thể hiện được đại đa số nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội với tinh thần làm chủ của nhân dân, chúng ta sẽ biểu quyết theo tinh thần đó.” Câu cú và cấu trúc ý tưởng chẳng đâu vào đâu. Lúc thì quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, lúc thì nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội, lại còn đèo theo một câu “tinh thần làm chủ của nhân dân”. Câu chữ cứ nhảy nhót loanh quanh, chẳng đâu vào đâu, và cuối cùng là chẳng có gì để nói!

Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo VN chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau. Có những khẩu hiệu quá quen thuộc nên chẳng ai chất vấn tính chính xác của nó. Ví dụ như câu “Trong niềm tự hào, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới …”, có lẽ chẳng ai để ý đến chữ “danh nhân văn hóa thế giới”. Nếu người bình thường phát biểu như thế thì chắc người ta cũng lắc đầu bỏ qua, nhưng lãnh đạo mà phát biểu như thế thì chẳng có gì sáng tạo, chỉ lặp lại những câu chữ đã có trước đây.

Một loại ngôn ngữ khẩu hiệu khác mang tính tự hào. Tự hào là một “đặc sản” của các vị lãnh đạo VN, đi đâu cũng nghe họ nói về tự hào. Điều này cũng hiểu được, vì làm lãnh đạo thì phải gieo niềm tự hào vào người dân. Nhưng gieo không đúng chỗ và gieo mãi thì có thể trở thành phản tác dụng. Thử đọc bài diễn văn có đoạn “Chúng ta tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về những con người giản dị bằng những việc làm tốt của mình ở mọi lúc, mọi nơi đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam; góp phần quyết định để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.” Tôi tự hỏi có cần quá nhiều tự hào như thế. Đất nước anh hùng, con người anh hùng, vẻ đẹp văn hoá, v.v. nhưng tại sao đất nước vẫn còn nghèo và phải “ăn xin” hết nơi này đến nơi khác và ăn xin kinh niên, con người vẫn còn đứng dưới hạng trung bình trên thế giới. Thay vì tự ru ngủ là anh hùng và giàu mạnh, tôi nghĩ lãnh đạo phải nói thẳng và nói thật là đất nước vẫn còn rất nghèo, tài nguyên chẳng có gì, và cả nước đang phải đương đầu với ngoại xâm.

Thứ năm là loại ngôn ngữ hành chính hoá. Nếu chú ý kĩ chúng ta sẽ thấy phần lớn những bài nói chuyện, bài diễn văn các lãnh đạo đọc là họ nói với đảng viên, với quan chức, công nhân viên, với quân đội, v.v. chứ không phải nói với người dân. Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ của họ thường mang tính hành chính. Có những chữ mà hình như họ sử dụng quá nhiều nên chẳng ai để ý ý nghĩa thật của nó, như “Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.” Đối với người dân bình thường, ít ai hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là cái gì. Có thể nói đó là những ngôn ngữ xa lạ đối với người dân.

Những bài diễn văn của các chính khác phương Tây thường rất sinh động, thực tế, và có khi … vui. Khán giả cảm thấy gần gũi với diễn giả. Ngược lại, những bài diễn văn của lãnh đạo VN thường cứng nhắc, công thức, và lúc nào cũng tỏ ra hết sức nghiêm trọng (dù sự việc chẳng có gì nghiêm trọng). Khán giả nghe họ đọc hơn là diễn. Một phần có lẽ do lãnh đạo VN chưa quen với văn hoá hài, và họ cũng muốn tỏ ra là người quan trọng. Dù gì đi nữa thì những bài nói chuyện của lãnh đạo VN rất khó gần với người dân do ngôn ngữ cứng đơ và kém thân thiện, và cách họ triển khai bài nói chuyện quá xa rời công chúng.

Dĩ nhiên, những đặc điểm này không phải là độc quyền của các lãnh đạo VN, mà thỉnh thoảng các chính khách phương Tây cũng vướng phải. Khi họ vướng phải, người dân biết vị chính khách đó có vấn đề, hoặc là không nắm vững vấn đề, hoặc là lúng túng. Vì không nắm vững vấn đề nên họ nói chung chung. Có người nghĩ nói chung chung là nói “đa tầng”, nhưng thật ra đó chỉ là cách nguỵ biện thô thiển. VN nói về hội nhập quốc tế, nhưng với loại ngôn ngữ đặc thù XHCN trên đây, tôi nghĩ các lãnh đạo VN sẽ rất khó gần với lãnh đạo thuộc thế giới văn minh.
Thứ Bảy, ngày 19 tháng 7 năm 2014

SỐC & ĐỘC # 66



Nhớ bác lòng ta trong sáng hơn?



Sự bứt phá của nền giáo dục An-nam.



Hóa ra ông Tiên là có thật. Tiên nhân ông hehe!



Trà đá lại có goai - phai. Tha hồ mà chém ngày dài... ngắn đi.



Siêu bảo vệ hế hế...



Và đây là...siêu bị cáo.



Xe ưu tiên.



Và xe chở tiền.



Kamikaze phiên bản Lừa.



Thợ nò & Đất mỏa.



Hồn ai nấy giữ.



Thành tựu của nền kinh tế có đuôi ( XHCN)



 Hai bờ chiến tuyến.



Lý thuyết luôn xám xịt, cây đời mới xanh tươi.



Ngoan là phải...ngu!



Đường về còn xa.



Thân lừa ưa nặng.



Vòng đo sinh tử.



Siêu trọc.



Và siêu bẹn.



Và siêu nhân.



Còn đây là siêu bựa.


Nguồn: nhặt trên NET.

Thứ Hai, ngày 14 tháng 7 năm 2014

GIĂNG VỠ ( toàn tập)



Năm thứ hai đại học tôi theo anh bạn đồng hương hàng tỉnh về nhà anh ấy chơi. Đó là một làng quê trù phú và lắm người đỗ đạt vang danh khoa bảng. Làng anh thơ lắm, có cổng cổ, ao sen, giếng đình và đặc biệt là cái Nghè rất đẹp, nghe đâu thờ ông trạng Xiển hay trạng Quỳnh. Tôi không hiểu Nghè là gì nhưng anh bạn giảng có tên thế bởi bọn trạng Xiển hay Quỳnh kia đỗ đạt đến hạng tiến sĩ. Đó là học vị cao quý của triều đình, còn dân gian mách qué nôm na pha ra là Nghè như trong cái câu " chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng". Là anh bạn tôi luận thế. Tôi biết thế. Thờ ai tôi cũng chả quan tâm. Tôi thích cái Nghè đó bởi lắm chim chích làm tổ, nhiều đống rơm to ở lối vào và hương hoa na thơm diệu vợi nở trắng vườn trước sân sau. Chả bù cho cái làng tôi, chả có cái đếch gì nên hồn ngoài phân bò và cứt chó. Chán vãi ra...

Đang là kỳ nghỉ nên tôi và anh bạn thư thả lắm. Sáng dậy khí muộn, sau chập ngáp dưỡng sinh là lục tục rang cơm nguội với mắm moi ăn cùng cà muối xổi rồi khề khà trà thuốc, chán đi lại nằm, rồi lại tha thẩn ra Nghè chơi quên cả ăn trưa. Giữa bốn bề xào xạc lúa chiêm, nằm nghe tiếng chích chích của lũ chim và thi thoảng lịch phịch cánh hoa na rơi vội thì quả là một niềm hạnh ngộ nhố nhăng. Ấy rồi cũng chán bởi ở cái tuổi đôi mươi người ta thích cái khác cơ, chứ đếch phải lối ngọt ngào thẩm du lẩm cẩm thế. Tôi đánh tiếng với anh bạn là đi tán gái làng dăm hôm rồi ít bữa nữa tôi sẽ ngược đường mà về với mẹ. Anh bạn tôi vốn dòng gia giáo ngáo mắt nhìn tôi bồi ngay một câu cực kỳ mất dạy " đừng để em nào nạo thai đấy nhé". Mẹ cái loại, nhẽ sự gia giáo đến đời anh là tiệt nọc chăng hehe?

Đêm ấy giăng sáng lắm, bọn tôi khua dép trên đường làng thơm mùi rơm mới và cả ẩm mốc rêu phong. Dọc đường đi anh giới thiệu sơ bộ cho tôi về " đối tượng cần nghiên cứu". Đó là một cô nàng có tên là Lý, tuổi mới qua rằm hai năm, đẹp nhất tổng. Bố mẹ nàng đều theo nghiệp giáo chức, duy nhất nàng là con. Theo anh thì đây là một ca rất khoai, chim chuột không phải dễ. Ngay cả cái việc đến chơi cũng rất khó khăn mà ngoại trừ anh ra thì không ai cả. Tôi nghe mà chân xoắn quẩy lấy nhau, rúm áo giục anh quay về. Anh bảo đến thăm em nó một chốc, xem học hành thi cử ra sao và tôi có thể đứng ngoài đợi.



Chó sủa vang, mõm sục hẳn vào cái cổng tre đan rất khéo. Tôi nghiệm ra rằng nhà có con gái đẹp và lại neo người thì chó bao giờ cũng tợn hơn nhà khác. Tôi sợ quá nép sang một bên tường. Bạn tôi xùy xùy như cắn thi với nó rồi gọi vống tên cô nàng và không quên dặn tôi đứng đợi. Tôi định nói muốn vào cùng bởi đứng đợi ở cái không gian xa lạ lại bàng bạc ánh giăng thêm cả lũ chó thì khó quá. Nhưng không hiểu sao miệng cứ cứng lại và chân cứ như chôn. Khi có tiếng chân người ra mở cổng và anh bạn tôi mất hút bên trong thì tôi biết là đã quá nhọ.

Tôi cứ men tường gạch nhà nàng mà đi đi lại lại. Chống sốt ruột và buồn chân thôi. Ai đó tưởng là thi nhân dạo giăng bên nhà người đẹp mà làm tình thơ thì vớ bở lắm. Nhưng quả thật là tôi muốn độn thổ hơn. Mẹ lũ chó, nhẽ hít thấy hơi người lạ nên cấm có buông tha. Chúng sủa tợn hơn, cào chân vào vách tre rồi chồm lên ăng ẳng. Mẹ kiếp, đúng là chó sủa giăng có khác.

Tôi toan chạy ra xa nhưng một giọng thanh thanh gọi giật " ai đấy?". Lấp ló dưới giăng ngà là một khuôn giăng đầy đặn mà tôi đoán là cô nàng. Rồi tiếng anh bạn tôi lép bép theo sau. Tôi vào nhà cô nàng theo lối ấy. Mẹ lũ chó, xin trân trọng cảm ơn hehehe...

Cả buổi tôi tịnh chả nói gì mà lặng ngắm không gian và cảnh vật nhà nàng. Tôi có cái cố tật đó, cứ nhìn sự vật rồi mới đoán định con người. Quả anh bạn tôi nói không ngoa, thuần một lối giản dị nhưng cũng đầy vẻ hàn lâm rau muống. Nào sập ngụ tủ chè giường giẻ quạt trường kỷ mo nang, nào chum cà vại nước hàng cau hoa dâm bụt. Có cả chõng tre kê hè, trên là điếu bát trà xanh điểm mấy thanh chè lam tăng vị. Cũng lối quê cả đấy nhưng nhà tôi không có cửa đọ so dù bố mẹ cũng là giáo chức. Thì tại cái làng tôi nó thế, tuyền hạng phu phen mấy nức nở làm phò.

Tôi chỉ cắt đi dòng lơ đãng khi anh bạn có một màn giới thiệu khá công phu, tất nhiên là về tôi. Đáp lại sự hân hạnh đó tôi lại đi hỏi một câu cực kỳ trì độn là " bố mẹ em đâu?". Nàng chỉ tay, rằng " dưới nhà ngang anh ạ". À hóa ra thế, nhà có con gái nhớn tiếp bạn giai thì phụ huynh dạt nhà ngang hết cả. Cái nết này tôi rất ưng, chỉ băn khoăn là họ đang vểnh tai nghe hay dáo dác chửi thầm. 

Tôi mặc mẹ cho anh bạn ton hót. Cái giọng đàn anh học hành đi trước tôi lạ đéo gì, tuyền những khuyên can ban ơn vô bổ. Tôi kín đáo ngắm nàng dưới giăng vàng. Giăng hôm nay đẹp, tự trên giời tõm rơi xuống đất. Nhưng giăng dưới đất của tôi ma mị hơn nhiều, hắt diệu vợi từ khuôn ngọc đến núi đồi và những lườn cong cổ cánh. Tôi thích mê đi...



Bọn tôi giở về khi giăng trên giời xấu hổ trốn vào mây đen gọi sấm chớp. Mưa nhớn lắm. Anh bạn tôi đùng đoàng thuyết thêm về nàng và gia cảnh. Hóa ra cũng là dòng dõi của ông Cống ông Nghè thời vang bóng nhưng vào cái kỷ quốc dân cộng hòa thì lại teo đi. Tôi thì không ngớt mồm khen dáng ngọc và thầm ước ao được làm rể quê anh. Ở cái tuổi hai mươi thì quả thật nhiều yêu dấu và bề bộn sự giao cấu hoang tâm. 

Hôm tôi ngược đường về với mẹ nhà anh bạn nấu cỗ khí to. Rõ ràng là họ rất trọng đãi người học hành chứ không có thói dí bòi như phường mất nết. Lần đầu tiên tôi được ăn cỗ bằng mâm gỗ có trổ phượng khảm chim. Anh bạn tôi phán đây mà mâm đẽo ra từ gỗ quý thuộc hạng gia truyền mấy đời nhà anh, chỉ dụng khi có việc trọng hay thịnh tình biệt đãi. Tôi nghe mà hân hoan lắm bởi ngày thường nhà anh tuyền sắp cơm trong mẹt. Vui sướng hơn là lại có tý cay, thứ diệu làng Trạng nồng nàn đựng trong cái cút mẻ miệng, mỗi lần chiêu là phải rót ra chén tống rồi mới đong ra cái li hạt mít mini. Thật là thanh tao và phải đạo.

Cỗ bàn vãn. Tôi dậm dịch xỉa răng và òng ọc xúc miệng trà xanh để nói lời tạm biệt thì cô nàng tằng tặc xe đạp đến. Tự nhiên lắm, cô lao ra giếng vén quần ngồi rửa bát với mẹ anh bạn tôi, cứ y như là con cái trong nhà. Tôi định mon men ra gợi chuyện hoặc chí ít là vắt vẻo thành giếng mà ngắm cái khuôn giăng cho lần sau cuối nhưng trong cơn bối rối tôi chả nghĩ ra được cái cơn cớ gì hữu duyên nên lại găm đít ngồi xỉa răng và trà vã. Mãi khi nàng xong việc đứng ngoài bậu cửa và anh bạn tôi lục hòm lôi ra mấy quyển bộ đề ôn thi gửi trao thì tôi biết là không còn dịp. Nàng vút đi trong tiếng tằng tặc xích líp trơn tru nhưng vẫn kịp để lại mắt tôi cặp bắp chân trắng ngần mà do vội vàng nàng kéo lên mà không kịp vén xuống. Nàng đi rồi thì tôi cũng về với mẹ tôi thôi.



Tôi với anh bạn ngày một thân thiết hơn, ngoài cái nghĩa đồng hương ra thì còn là cái tình với cô nàng hàng xóm. Nhiều bận tôi gạ gẫm anh xin tí địa chỉ để túc tắc biên thư nhưng anh gạt đi, bẩu để cho em ý học, thi thố đến nơi rồi. Nhưng anh lại chiếu cố tôi bằng cách trong mỗi cánh thư anh gởi cho nàng đều nhắc tên và điều chuyển lời thăm hỏi của tôi. Thư nàng gửi cho anh cũng thế, bao giờ dòng cuối cũng có cái câu " à cho em gửi lời hỏi thăm anh Phẹt". 

Năm sau nàng báo tin đỗ đại học sư phạm, nối nghiệp giáo của song thân. Tôi mừng lắm bởi cứ nghĩ đến cái cơ hội sẽ được gần nàng hơn. Anh bạn tôi thì luôn trong trạng thái " như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng". Rồi anh quyết định về quê dự cái lễ ăn mừng và cũng có thể là đưa nàng ra nhập học. Anh không rủ tôi mà tôi xin đi cùng. Tôi bảo tôi nhớ nhà anh, nhớ cái Nghè đầy chim làm tổ, nhớ mùi rơm, hương na..., nói chung là tôi nhớ cả. Nhưng điều cốt yếu là tôi nhớ đôi bắp chân trần trong cái mong manh sương khói đầu đời.


Chúng tôi về thời gian y kỳ nghỉ năm ngoái và lại đúng mùa giăng. Anh bạn vứt tôi ở nhà mà đi bươn bả. Tôi hiểu là anh sang nhà cô nàng, tặng hoa, huấn thị hay hộ hành việc gì đó. Tôi lại tha thẩn ra Nghè chơi và thấm thía cái câu triết học hại óc " không ai tắm hai lần trên cùng một giòng sông". Tôi chán lắm và chỉ mong nhanh đến hôm ăn cỗ để theo chân anh bạn sang nhà nàng. Tôi cũng cắn răng mua tặng nàng một vật thể xinh xinh, nói ra sợ người ta khinh nhưng đích thị đó là hộp dầu gội đầu hương bồ kết.

Hóa ra chả cỗ bàn gì ráo. Nhà nàng chỉ biện nước trà xanh, bánh chè lam, giầu cau và thuốc lào sợi mịn. Bạn bè nàng rồi anh em làng xóm đến ngồi chán thì về, một sự chia vui đầy hân hoan cam chịu. Ấy thế mà cũng lê thê từ chập tối cho đến khi giăng treo ngọn cau. Giăng vẫn đẹp nhưng tôi thì chán hẳn, cơ mà chả biết làm gì vui ngoài cái việc bấc mặt lên giời rồi thi thoảng lén lút nhìn nàng như phải tội.

Tôi trốn ra Nghè chơi sau khi tùn cái hộp dầu gội đầu hương bồ kết cho anh bạn. Lòng tôi tự nhủ nằm ngắm giăng một tý với bọn Trạng xỏ xiên nhẽ thú vật hơn. Cảnh sắc không gian im phăng phắc, đến độ tôi nghe được tiếng năm nay na mất mùa, quả thối cuống rơi lộp bộp như âm hưởng trống điếm canh đê chạy lụt mạn trên. Mùi lúa chiêm không còn thơm nữa bởi lũ rô đồng tòm tọp đớp phấn lẫn giăng thanh. Tôi nằm tênh hênh trên cái chõng của cụ từ nhẽ đêm nay hoang đàng về với vợ. Tôi ngắm giăng suông cùng cóc nhái với côn trùng trong cái khí độ ậm ạch của lòng mề thiếu đớp. Ấy thế mà mồm lại veo véo đọc thơ, rằng thì bóng nguyệt trần truồng tắm, lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe. Của ông chết dẫm nào tôi không nhớ dù đã cố hình dung ra cái he hách cửa mình.

Ấy rồi tôi thiếp đi. Giăng tan ra như trẻ thơ ợ sữa. ( từ từ hóng nha...)






 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang