Thứ Năm, ngày 04 tháng 2 năm 2016

TẾT LỪA KỶ XVII



Tác giả: Đỗ Quang Chính, sj.

Tết Nguyên đán là những ngày vui vẻ nhất trong năm của người Việt Nam. Joseph Tissanier, người Pháp, sống ở Thăng Long từ 1658-1663 đã dự năm cái Tết ở đây, tả rõ rằng, vào dịp này người Việt sửa soạn mọi cái cho long trọng, từ nhà cửa đến đề ăn, áo mặc. Túng cực đến đâu cũng phải kiếm cho đủ tiền bạc tiêu dùng ba ngày Tết. Có những kẻ nghèo khổ, phải đi ăn cắp vặt hoặc dùng võ lực cướp của người khác, hầu được sống dung dung trong những ngày đầu Xuân [1]. Vì vậy trong những đêm gần Tết, nhiều nhà phải thức đêm canh trộm.

Cuối năm, các chợ Tết hết sức nhộn nhịp, vì mọi người giàu sang, nghèo hèn đều đi mua sắm. Quan cũng như dân đều lo may quần áo mới, dọn dẹp nhà cửa cho khang trang, sửa sang võng cáng, tàn lọng, đắp lại mồ mả, cột nhà tường vách treo đầy câu đối, tranh vẽ, vua chúa cũng cho quét dọn lăng tẩm…[2]

Theo Bento Thiện viết năm 1659: “đến gần ngài bết bua chúa ban lịch cho thiên hạ xem ngài” [3], trong đó những ngày nghỉ Tết được ấn định rõ ràng. Thường bắt đầu nghỉ từ ngày 25, 26 tháng chạp, và có thể kéo dài tới ngày 10 hay 15 tháng giêng. Những ngày đó, nếu có chiến tranh, cũng tạm ngưng để ăn Tết. Từ ngày 25 tháng chạp, ấn dấu của vua chúa, quan quyền đều được lau chùi sạch sẽ, cất vào hộp, không dùng tới; khí giới quân đội cũng lau lọt sáng nhoáng để một nơi.

Chúng ta thử coi, năm 1659 thầy giảng Bento Thiện đã viết về Tết Nguyên đán thế nào: “Thói nước Annam, đầu năm mùng một tháng giêng gọi là ngày Tết. Thiên hạ đi lạy vua, đoạn lạy chúa, mới lạy ông bà ông vãi, cha mẹ cùng kẻ cả bề trên. Quan quyền thì lạy vua chúa, thứ dân thì lạy Bụt trước. Ăn tết ba ngày, mà một ngày trước mà xem ngày mùng hai, mùng ba, ngày nào tốt, thì vua chúa đi đền giao, gọi là nhà thờ. Trời, hiệu Thiên Thượng Đế Hoàng địa kì. Vua chúa đi lạy mà xin cho thiên hạ được mùa cùng dân an. Đến mùng bảy mùng tám mới hết, cùng làm cỗ cho thiên hạ ăn mừơi ngày. Lại xem ngày nào tốt, mới mở ấy ra cho thiên hạ đi chầu cùng làm việc quan, cùng hỏi kiện mọi việc; lại làm như trước mới khai quốc, thiên hạ vào chầu vua. Từ ấy mới có phiên đi chầu. Nội đài, ngoại hiến, phủ huyện, quan đăng nha môn, mới có kiện cáo”. Chính Bento Thiện lại viết chữ quốc ngữ đoạn trên như sau: “Thóy nước Annam, đầu Năm mùỏ một tháng giang gọi là ngài tết. Thien hạ đi lại bua, đoạn lại chúa mớy lại oủ bà oủ bải cha mẹ củ kẻ cả bề tiên, quan quièn thì lại bua chúa, thứ dân thì lại bụt tlưác, ăn tết ba ngài mà một ngài tlưác mà xem ngài mùỏ hay mùỏ ba, ngài nào tốt, thì bua chúa đi đền giao, gọi là nhà thờ blờy hiẹu thien thưạng đế hoàng địa kì. Bua chúa thì lạy mà xin cho thien hạ được mùa củ dân an, đến mùỏ bải mùỏ tám mớy hết củ làm cỗ cho thien hạ ăn mươỳ ngài, lại xem ngài nào tốt, mơý mở ấn ra cho thien hạ đi chầu củ làm vịec quan, củ hỏi kịen mọy vịec, lại làm như tlưác mớy khai cuác, thien hạ bào chầu bua,từ ấy mớy có phien đi chầu, nộy đài ngoặy hién phủ huịen quan đảng (đăng?) nha môn, mớy có kịen cáo”[4]

Mấy ngày cuối năm, một số người già cả không dám ở nhà mình, nhưng phải đi trú trong đền chùa, được coi là chốn nương thân an toàn nhất. Vì họ tin rằng, dịp này có một thứ “quỷ” tên là Thưang (Thương) hay Voutuan (Vũ tuần) [5] chuyên đi bóp cổ sát hại những người già nua, nam cũng như nữ. Do đó nhiều người giả phải lẩn tránh trong đền, chùa cả ngày đêm không dám bước ra ngoài. Mãi đến lúc giao thừa họ mới dám về nhà, vì nghĩ “quỷ” ác ấy đã đi khỏi. Bởi đấy dân chúng gọi ba ngày cuối năm là ba ngày chết. Cuối năm nhiều người còn dùng vôi vẽ trước cổng ngõ, những hình vuông, tròn, hay tam giác, nhất là hình con mèo, trong số các hình, thì hình tam giác và con mèo làm cho ma quỷ sợ nhất. [6]

Tối ba mươi Tết mọi nhà đều dựng cây Nêu trước cửa. Đó là một “cột” thường làm bằng tre, cao hơn nóc nhà một chút (nên biết, ở thủ đô Thăng Long thế kỷ XVII, chỉ có nhà trệt, kể cả đền đài vua chúa). Gần ngọn cây Nêu người ta cột một cái giỏ hay chiếc hộp thông nhiều lỗ, bên trong đựng vàng mã. Vì theo Alexandre de Rhodes, dân chúng tin rằng, dẫu ông bà cha mẹ đã chết, nhưng các ngài cũng cần tiêu xài, và nhất là để trả những món nợ chưa xong khi còn sống. Theo phong tục Việt Nam thời đó, cứ cuối năm mãn chạp, liệu sao tính sổ sách cho xong: ai còn nợ, cố gắng trả cho sạch; nếu có tiền cho vay cũng phải đòi lại hết. Không ai muốn để giây dưa sang năm mới. Mọi thứ nợ cũ phải thanh toán hoàn toàn, trừ trường hợp bất khả kháng. Bởi lẽ, còn nợ sợ rằng, nếu đến ngày ba mươi Tết mà chưa trả, lỡ ra chính ngày mồng Một chủ nợ đến nhà đòi, thì thật là xui xeo suốt cả năm. [7]

Theo tài liệu viết tay bằng chữ Quốc ngữ của Thầy giảng Bentô Thiện năm 16559, mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên, thì dân chúng lại dựng cây Nêu vào sáng ngày mồng Một; điểm này có lẽ ông Thiện ghi không đúng. Còn về ý nghĩa cây Nêu, ông Thiện lại trình bày khác. Theo ông, thì tục truyền rằng Đức Phật và quỷ tranh giành đất nhau. Đức Phật nói cho quỷ hay, hễ ngài trải áo cà sa tới đâu thì đất đó thuộc về ngài, còn lại là phần quỷ. Vậy Đức Phật trải áo ngài ra khắp mặt đất, làm cho quỷ không có đất ở, đành phải xuống biển. Nhưng cứ hết năm cũ, ma quỷ lại tranh đất với Đức Phật. Bởi đấy, mọi người phải dựng cây Nêu từ sáng sớm ngày mồng Một, để quỷ biết rằng đó là đất của Đức Phật đã trải áo cà sa tới; còn ai không dựng cây Nêu là đất của quỷ. [8]

Đến nửa đêm giao thừa, trong vương phủ (phủ chúa Trịnh) ba súng đại bác nổ vang báo hiệu bước sang năm mới. Theo Marini, người Ý, sống ở Đàng Ngoài từ 1647-1658, thì chính lúc giao thừa mọi người đều hội họp trong nhà và bó buộc phải mở cửa hầu đón tiếp tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Giường chiếu cũng đã dọn sạch sẽ, để tổ tiên nghỉ ngơi sau nhiều ngày đàng mệt nhọc mới về tới nhà con cháu. Ngoài ra cũng đặt ngoài hiên nhà một chậu nước sạch, một đôi giép hay guốc, và có khi hai cây mía nữa. Làm thế để hồn tổ tiên trước khi vào nhà cũng rửa chân, đi guốc cho sạch, trước khi lên giường; còn hai cây mía được coi như hai chiếc gậy giúp tổ tiên chống bước vào nhà. Mọi người sau giờ giao thừa, đều tưởng tượng là tổ tiên đã vào nhà cách vô hình [9]. Lúc đó gia trưởng nói mấy lời chúc mừng tổ tiên. Trên bàn thờ tổ, khói hương nghi ngút. Gia trưởng cùng mọi người trong nhà làm lễ cùng vái, tạ ơn tổ tiên, mời tổ tiên cùng chung vui với họ, và xin phù hộ cho con cháu năm mới được bằng an, khỏe mạnh, làm ăn phát đạt. Liền đó trong gia đình mừng tuổi nhau: con cái lạy cha mẹ, tôi tớ lạy chủ nhà, rồi cha mẹ ban quà mừng tuổi cho con cháu, tôi tớ.

Trong ba ngày tết, nhất là ngà mùng Một, người ta đi chúc tuổi nhau; vào nhà nào cũng được mời ăn, nếu từ chối là bất lịch sự. Ngày mồng Một Tết, khi vừa ra đường mà trước tiên lại gặp phải người đàn bà, thì họ liền về nhà, chờ hai, ba giờ sau mới dám ra đường; trái lại họ sẽ gặp xui. Nhưng nếu bước chân ra đường, trước tiên lại gặp được một người đàn ông, thì thật hên. [10]

Đi Tết ai, thường cũng tết thêm mấy bánh pháo to nhỏ tuỳ theo cấp bậc, địa vị; vừa xướng Tết xong, người ta liền đốt pháo cho ran nhà, cho tà ma bỏ chạy, để hạnh phúc tràn tới. Người dưới phải đem đồ, hoặc cho người đại diện đi tết người trên. Con cháu phải tết ông bà, cha mẹ, chú bác; trò phải tết thầy… Các quan cấp dưới cũng phải gửi đồ tết quan trên. Vì vậy nhà các đại quan tràn ngập đồ tết. Thường thường các vị đó lại đem tặng bạn bè, hoặc cho quân lính, kẻ hầu hạ, để mọi người được hưởng lộc. Tất cả các quan lại không buộc dâng đồ Tết vua chúa.

Đồ tết của người dưới đối với người trên hầu hết là thực phẩm: gạo, heo, gà, vịt, cau, đường, trái cây, bánh, mứt… Nếu là quân lính, sẽ họp nhau cùng tết viên quan chỉ huy trực tiếp. Họ mang đồ Tết đến nhà quan bằng một nghi thức trang trọng: đi đầu là cai đội (chỉ huy từ 2 đến 6 thuyền, mỗi thuyền từ 30 đến 60 lính) rồi đến lính bưng một quả (hộp) gạo), và khênh con heo mới giết đặt trên bàn, để trước mặt quan. Viên quan ngồi giữa nhà thật oai nghiêm. Quân lính lạy quan sát đất ba lần. Quan nhận đồ Tết, rồi bảo người hầu đem cất đi; sau đó ban quà mừng tuổi cho lính tương xứng với đồ Tết. Còn quà mừng tuổi của vua chúa cho các quan là một bộ phẩm phục, đặt trong quả (hộp) áo sơn son vẽ rồng, cùng một mẫu. Vua chúa sai người bưng quả áo đến nhà viên quan, đi theo có lính che lọng quà mừng tuổi. Việc che lọng trên không có ý tránh mưa nắng, nhưng chỉ là tỏ sự cung kính món quà vua chúa ban.

Ba ngày cuối năm, bốn mươi đại quan thuộc triều đình và vương phủ, đi nhận lời tuyên thệ trung tín của các quan văn võ, và có khi cả gia đình họ nữa. Đó là lời thề trung thành với vua chúa; nếu nhận thấy điều gì có thể nguy hại cho vua chúa hoặc cho quốc gia, họ phải đi tố cáo. Đấy là lễ tuyên thệ tại thủ đô Thăng Long. Còn tại các Xứ, thì quan Trấn thủ, Đốc trấn và Lưu thủ [11] đại diện cho vua chúa, nhận lời thề các quan trực thuộc. Trong dịp này bất kể ai tố cáo ra một cuộc mưu phản, thế nào cũng được thưởng. Phần thưởng không những tuỳ theo tính cách quan trọng vụ âm mưu, mà còn theo chức tước người tố cáo. Nếu kẻ tố cáo là một viên quan, thì họ chỉ được hưởng tuỳ theo ý muốn vua chúa, vì nhiệm vụ của họ là phải giữ trật tự an ninh quốc gia; nếu là người dân thì được thuởng cho một phẩm hàm hoặc được thăng quan chức; hơn nữa khi tố cáo được vụ phản loạn lớn, chúa Trịnh còn ban thêm cho họ tới 500 lượng vàng hoặc 5.000 lượng bạc. Tuy nhiên dân chúng không chuộc tiền thưởng bằng được thăng quan. [12]

Ngày ba mươi Tết, Tây định vương Trịnh Tạc cùng quan quân theo hầu, ra khỏi vương phủ để đi tắm ở sông hoặc tại một chiếc nhà gần đó, hầu thanh tẩy cuộc sống dĩ vãng, đón nhận đời sống mới trong năm tới. [13]

Sáng ngày mồng một Tết, cũng như ngày một và rằm mỗi tháng chúa Trịnh cùng các quan đến chầu vua Lê; dĩ nhiên ngày mồng Một Tết buổi chầu được tổ chức long trọng hơn cả [14]. Nhưng khi Trịnh Tạc thế vị cha lên cầm quyền (1657), ông lấn đoạt quyền hành vua Lê nhiều hơn, ông cũng không đi chầu vua vào các ngày mồng một và rằm mỗi tháng. Hơn nữa, dường như từ năm 1658 trở đi, Trịnh Tạc cũng không đích thân đi tết vua, mà chỉ đón vua đi tế Nam giao. Tuy nhiên, ông cử một quan đại diện đến tết vua và chầu vua mỗi tháng hai lần.

Sau khi tết vua, các quan trở lại tết chúa. Theo Tissanier và Tavernier thì khung cảnh tết chúa long trọng hơn tết vua nhiều. Khi các quan đi chầu hoặc tết vua chúa, phải mặc áo tím, đội mũ lục lăng và phải lạy sát đất 4 lần [15]. Riêng nữ giới chỉ buộc lạy một lần theo kiểu lạy của họ (ngồi mà lạy). Dịp này cũng như các dịp khác ai muốn dộng [16] xin ân huệ gì, thì đội của lễ lên đầu, hoặc bưng cao ngang trán, tiến gần tới chúa để nói. Nếu chúa nhận lời, ngài sẽ bảo người hầu cất của lễ đi; bằng không, thì chúa cũng không nhận của lễ.

Đúng mồng ba Tết chúa Trịnh mới tiếp người ngoại quốc đến dâng tuổi. Dịp tết Canh Tý, Vĩnh thọ năm thứ 3 (1660), phái đoàn Trung Hoa chúc tuổi chúa Trịnh Tạc trước hết theo nghi lễ Trung Hoa, rồi lại lạy chúa theo nghi lễ Việt Nam, phái đoàn Hòa Lan chỉ chào chúc chúa theo nghi thức Hòa Lan…. Còn hai linh mục dòng Tên Onuphre Borgès (Thuỵ Sĩ) và Joseph Tissanier (Pháp) lại lạy hoàn toàn theo kiểu Việt Nam. Tissanier thuật rằng, ngày đó trước vương phủ đông nghẹt người không dễ gì chen chân được. Cũng may hai ông vào được tới một sân lớn để lạy chúa. Các ông cũng mặc áo thụng tím, đội mũ lục lăng, lạy chúa Trịnh Tạc bốn lạy sát đất trước mặt 4.000 người. Khi Tây định vương Trịnh Tạc thấy hai linh mục, ông làm hiệu cho hai vị lạy vương thái hậu (mẹ chúa) đang ngồi cạnh ông. Tức thì Borgès và Tissanier cũng lạy vương thái hậu bốn lần. [17]

Chính ba ngày Tết, nhiều người đều kiêng giữ không quét nhà, có nơi kiêng cả nấu ăn [18]. Tết là dịp nghỉ ngơi, xem ca hát tuồng kịch, đánh bài bạc; cũng vì thế mà nhiều người sạt nghiệp vì Tết.

Nhìn lại một số khía cạnh lịch sử tết nguyên đán thế kỷ XVII, chúng ta thấy ngay được những gì đã biến mất, những gì còn lại ngày nay. Thật ra, tinh thần Tết nguyên đán xưa và nay cũng không khác nhau, nó là dịp long trọng nhất để cấp dưới tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với cấp trên: vua đại diện toàn dân “đi đền giao, gọi là nhà thờ Trời, hiệu Thiên Thượng Đế Hoàng địa kỳ”, các quan lại tết vua chúa, con cháu tết cha mẹ ông bà, gia đình xum họp lúc giao thừa đón tổ tiên, trò tết thầy v.v… Mối liên hệ chiều ngang trong dịp này bị xẹp xuống, để làm nổi mối liên hệ chiều dọc trong xã hội gia đình, quốc gia, và cả cái “xã hội” nhân thần, hay nói rộng hơn là sự giao hòa giữa người với Trời Đất, tức tam tài Thiên Địa Nhân.

Về hình thức, Tết vẫn là những ngày lễ nghỉ lâu dài, long trọng và vui vẻ nhất trong năm; vì thời đó, ngoài dịp đầu Xuân, thường thường chỉ có lệ nghỉ ngày một và rằm mỗi tháng chứ không nghỉ ngày Chúa nhật như hiện nay. Chúng tôi xin tạm ngừng ở đây mà không muốn đi sâu vào vấn đề ý nghĩa các phong tục rườm rà Tết nguyên đán, hoặc những nguyên nhân xã hội đã thay đổi nhiều hình thức và cơ cấu Tết nguyên đán ngày nay so với giữa thế kỷ XVII.

Chú thích:
[1] “Ceux qui ne trouvent dans leur maison, ni argent, ni habits, en vont chercher ailleurs par des larcins cachez, ou par la force de leurs armes” (J.Tissanier, Relation du voyage… depuis la France jusqu’au Royaume de Tunquin, Paris 1663, tr.265-266).
[2] J.P de Marini, Relation nouvelle et eurieuse des Royaumes de Tunquin et de Lao, Paris 1666, tr.245-246.
[3] Archivum Romanum S.I, JS, 81 .f.257v
[4] Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Sài gòn 1972, tr.119-120, 145 – Archivum Romanum S.I, JS, 81 .f.257r
[5] Alexandre de Rhodes, Relazione del Tunchino, Roma 1650, tr.108-109.
[6] J.B.Tavernier, Suite des voyages de Mr.Tavenier, chevalier, baron d’Aubonne, IV Paris 1680, tr.94.
[7] Alexandre de Rhodes, Relazione del Tunchino, Roma 1650, tr.109-110.
[8] Đỗ Quang Chính, sđd, tr.121, 146.
[9] Marini, Relation nouvelle, sđd, tr.251-252.
[10] J.B.Tavernier, Suite des voyages de Mr.Tavenier, chevalier, baron d’Aubonne, IV Paris 1680, tr.95
[11] Cai trị Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, An Quảng do quan Trấn thủ; cai trị Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nghệ An do quan Đốc trấn; cai trị Thanh Hóa, Tuyên Quang, Hưng Hóa do quan Lưu thủ.
[12] J.B.Tavernier, sđd, tr.65.
[13] “… đến ngài ba mươy thì đức chúa đi giội gọy là bỏ mọy sự cũ đi mà chịu mọy sự mớy” (coi Đỗ Quang Chính, sđd, tr.121, 146) – “Le dernier jour de l’an, le Roy (chúa Trịnh Tạc) sort de son Palais auecque son armée, pour s’aller lauer à la riuiere, ou dans quelque maison voisine” (J.Tissanier sđd, tr.266).
[14] A.F.Cardim, Relation… Paris, 1646 tr.59.
[15] J.Tissanier, sđd, tr.260 – J.B.Tavernier, sđd, tr.64.
[16] Dộng là tiếng để nói với chúa Trịnh; cũng như khi nói với vua thì dùng tiếng tâu (tâu vua, dộng chúa); nói với đại quan dùng tiếng bẩm; với quan nhỏ, tiếng trình; với vai trên, thưa. Như vậy trong thuật ngữ xưng hô đẳng cấp xã hội, tiếng dộng ở cấp thứ hai.
[17] J.Tissanier, sđd, tr.270-272.
[18] Marini, Relation nouvelle, sđd, tr.253

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 1 năm 2016

TÁO 2016



Táo: Ối anh Phẹt ơi là anh Phẹt ơi. Tôi thương cụ Rùa quá.

Phọt_Phẹt: Cụ ấy là bố ông à mà rên như Bác mất thế?

Táo: Cụ ấy là quốc thú, cả nước xót thương. Nhẽ nào tôi lại không?

Phọt_Phẹt: Thôi ông im đi. Việc của ông là lo sao cho bếp núc luôn đỏ lửa nhưng không được để cháy nhà cửa. Còn cụ Rùa có thăng thiên thì cũng chỉ một dòng trong tấu sớ là xong. Nghe nhở?

Táo: Anh bảo sao tôi nghe vậy. Năm nay anh cho tôi lên chầu Giời bằng gì?

Phọt_Phẹt: Năm nay cho ông đi bằng con Rô - Phi đơn tính. Tốc độ, phong cách chứ không cảnh vẻ, ưỡn ẹo như con chép đầm Vươn năm ngoái đâu. Yên tâm chửa?

Táo: Đội ơn anh. Năm nay anh có tấu gì lên không để tôi bẩm hộ?

Phọt_Phẹt: Không. Mà chỉ xin ông ở luôn trên thiên đình cho tôi nhờ.

Táo: Sao lại có thể thế được?

Phọt_Phẹt: Vì năm nay tôi cũng có chung số kiếp như ông rồi. Khác cái ông là Táo Quân, còn tôi là Táo... Phọt Phẹt.

Táo: Anh người trần mắt thịt mà thánh lắm. Tôi bội phục và kinh hãi vô cùng. Nhưng tôi còn bội phục và kinh hãi bác cả nhà anh hơn khi đoạt được ngôi Tổng bí. Thật là hồng phúc cho cái nước Nam này.

Phọt_Phẹt: Ông cứ tấu với Ngọc Hoàng cái nhẽ đó cho tường tận nhưng phải quán triệt là bác cả tôi đoạt ngôi Tổng bí không vì tham quyền cố vị, mà chỉ là giúp đoàn kết nội bộ thôi. Vì đại cục cả.

Táo: Ai mà chả có lý do để biện minh cho mục đích. Bác cả anh giáo điều thế thì đoàn kết nội bộ bằng miền tin à?

Phọt_Phẹt: Bằng bùa nghị quyết và chế độ công an trị. Mà ông thôi đi, việc của ông là tấu hót với Thiên đình chứ không phải ở đó mà luận việc Triều chính. Thọc mạch tuần đinh nó lại gô cổ đi đấy, chớ có dại.

Táo: Anh dạy phải. Nhưng tôi quan ngại cho cái tiền đồ của cái nước Nam này, rằng không biết là đi về đâu?

Phọt_Phẹt: Ông không phải lo. Cùng tắc biến thôi. Con nào trước khi chết mà chả giãy.

Táo: Anh đúng là đồ phản động. Nhưng con Tư bản giãy mãi mà có chết đâu?

Phọt_Phẹt: Nhức đầu quá. Ông không còn chuyện gì khác hơn à?

Táo: Có đấy. Nhưng là chuyện với tay Táo Tầu. Thằng chả gạ tôi không dâng biểu tấu về việc chủ quyền biển đảo.

Phọt_Phẹt: Ý ông sao?

Táo: Thì theo truyền thống và thông lệ, tôi lại cực lực phản đối thôi.

Phọt_Phẹt: Đúng bài rồi đấy. Chứ chớ có hùng hổ mà chành chọe kẻo nó vả cho tòe loa. Cứ cực lực phản đối là thằng Táo Tầu nó chán và nản ngay thôi.

Táo: Thế hóa ra là đánh giặc bằng mồm à? Có nhẽ đâu thế?

Phọt_Phẹt: Thế theo ông thì đánh bằng gì khi trong tay chỉ có hỏa mai và thuyền thúng?

Táo: Chả phải nước Nam có đại pháp sư Lương Ngọc Huỳnh đại tài trong việc hô phong hoán vũ đó sao? Người xoay chuyển được cả càn khôn thì sợ đếch gì bọn giặc cỏ. Mời ngài ấy ra biển đảo làm bão nhấn chìm tàu to súng lớn là xong chứ gì.

Phọt_Phẹt: Ông hài hước hơn tôi nghĩ đấy. Nhưng nhẽ đó là giải pháp tối ưu trong tình hình hiện nay. Hay để tôi gọi đại pháp sư làm phép để đưa ông lên Thiên đình cho nhanh? Đỡ phải cưỡi Rô - Phi đơn tính cho nhọc xác.

Táo: Đội ơn anh lắm.

Phọt_Phẹt: À lố, đại pháp sư Lương Ngọc Huỳnh phải không ạ? Vâng, tôi Phọt_Phẹt đây. Ngài có thể làm phép cho Táo nhà tôi lên chầu Thiên đình chóng vánh hanh thông được không?

Đại pháp sư: Đang bận buôn đào bán quất kiếm cái tết nhá. Gọi lại sau. Bíp bíp bíp...

Táo: Hỏng việc rồi phỏng?

Phọt_Phẹt: Về cơ bản. Thôi, để tôi đi bắt con Rô - Phi đơn tính về cho ông. Nhanh không có thằng bếp nó cho vào nồi thì hỏng hẳn.

Táo: Anh bắt ở đâu?

Phọt_Phẹt: Trong cái bể cá ở Phọt_Phẹt tửu điếm chứ ở đâu.

Táo: Mở quán nhậu à?

Phọt_Phẹt: Phải. Chứ định để mạng nhện chăng ở đít thêm bốn nghìn năm nữa à?

Táo: Thế để tôi ra đó trông bếp cho nhá. Chứ bếp nhà lạnh lắm.

Phọt_Phẹt: Thôi, có tôi trông rồi. Ông nên nhớ năm nay tôi cũng chính thức làm Táo đấy. Táo Phọt Phẹt.

Táo: Tiên nhân. Người đâu mà lại có cái nết tranh ăn với thánh thế. 

Phọt_Phẹt: Hế hế. Thôi tôi đi nhế.






Thứ Ba, ngày 26 tháng 1 năm 2016

VĂN TẾ RÙA HỒ GƯƠM.



Hỡi ôi!

Sóng nước lao xao,
Lộc vừng bối rối,
Đền Ngọc Sơn gió bấc đìu hiu,
Cầu Thê Húc thoảng mùi thôi thối,
Tưởng đâu từ nơi đống rác, quân vô lương đổ trộm xuống hồ?
Thì ra là xác ông Rùa, chết đột quỵ nhẽ chưa kịp trối!
(Thôi thì
Kêu bằng ông cũng lắm kẻ la,
Gọi bằng cụ hẳn không phải lối,
Mặc kệ họ la,
Cứ “ông” tôi gọi)

...

Nhớ linh xưa
Giống hiếm nòi khan,
Con dòng cháu dõi,
Cùng Ếch, Nhái, Thằn lằn - chính danh bò sát lưỡng cư,
Với Rồng, Phượng, Kỳ Lân - góp mặt tứ linh một hội,
Đường Tam Tạng đã từng quịt tiền đò,
Thần Kim Quy vốn là ông tổ nội.
Còn nhỏ ông chạy đua với Thỏ, nhờ mưu cao nên về đích trước tiên,
Lớn lên ông làm bạn với Sên, nết cẩn trọng chả bao giờ thèm vội!
Tính ưa đồng trũng ao hồ,
Chẳng chịu phồn hoa đô hội,
Ông quê ở chốn Lam Kinh,
Vua vác ông ra Hà Nội.
Ông uống phải nước Hồ Gươm,
Ông ăn cả gươm Lê Lợi.
Mà ông to phải cỡ mét ba,
Và ông nặng đến hơn tạ rưỡi.
Ông ốm đâu có một đôi lần,
Rồi thọ đến hơn ba trăm tuổi,
Tính ông kiên định, cắn rồi thì ngậm mãi không buông,
Miệng ông thép gang, muốn nhả ắt phải chờ sấm dội.
Hành tung ông khi chìm khi nổi, dân ghi nhận rất mực thất thường,
Công trạng ông lúc thụt lúc thò, sử chép lại bỗng thành chói lọi.

Thương ôi!
Bao nhiêu năm, hồ nọ thỏa thích rong chơi
Chợt một chiều, xác kia lềnh phềnh sóng nổi
Lá úa trên cao rụng đầy
Ba ba cũng đành chết đuối!
Tiến sĩ, giáo sư tranh luận búa xua,
Kền kền, lá cải đưa tin ỏm tỏi,
Quân thối mồm đã được dịp phán nhăng,
Bọn nhọ mõm lại thừa cơ đồn thổi
Chẳng biết rằng: Sinh Lão Bệnh Tử, sự vốn vô thường
Cũng nhờ vậy: Xuân Hạ Thu Đông, đời luôn đổi mới

Ôi thôi thôi!
Ruột gan kia nào ai nghĩ đến chuyện xào hành,
Thân thế ấy đố thằng mô dám đem rang muối!

Nay tế ông đây:
Một thúng chuối xanh,
Một giành ba rọi,
Một gói riềng nghệ mắm tôm,
Một ôm tía tô kinh giới,
Đậu phụ chín tới, bỏ chảo xào chung,
Hành tiêu lung tung, rắc lên nóng hổi.
Hồn ông thiên đình,
Xác ông hạ giới,
Ông ăn cho no,
Ông bò cho tới,
Gần thì ngay Ngọc Sơn đây, hễ muốn tiêu bản thì tiêu?
Xa thì sang Văn Miếu đó, có thích đội bia thì đội?

Từ từ,
Đừng vội!

***  

P/s: bài tế của anh Lý, tôi dẫn về từ đây http://locliec.blogspot.com/

Thứ Năm, ngày 21 tháng 1 năm 2016

LÝ SƠN KÝ SỰ - CHƯƠNG # 1.



Trước khi đọc thiên LÝ SƠN KÝ SỰ, các tình yêu vui lòng soạn tin nhắn theo cú pháp: HS gửi 1407. Mỗi một tin nhắn là 20.000 VND. Đây là cách chúng ta góp một viên đá xây dựng tượng đài NGHĨA SĨ HOÀNG SA do Tổng liên đoàn Lao động Việt nam phát động.

Tổ chức, cá nhân ùng hộ trực tiếp xin vui lòng liên hệ quỹ " TẤM LÒNG VÀNG " báo Lao Động, 51 Hàng Bồ - Hà Nội hoặc chuyển khoản về Quỹ xã hội từ thiện " TẤM LÒNG VÀNG" , STK 10201.00000.13374 tại ngân hàng TMCP công thương Việt Nam, chi nhánh Hoàng Kiếm - Hà Nội.

Trân trọng biết ơn.

***

Tôi đi Lý Sơn theo lời mời của báo Lao Động qua "khẩu dụ" của đại ký giả Đào Tuấn. Gã không nói về mục đích chuyến đi mà chỉ bảo là hay lắm, không đi thì phí một đời. Mẹ kiếp, đời tôi đã phí con mẹ nó rồi thì còn chỗ đếch nào nữa mà hoài của. Ấy như năm ngoái đấy, trong chuyến xuyên Việt bằng con xít - đờ - ka ba bánh cùng với Hải Âu mặt dế tôi còn chả thèm ra nữa là. Nằm ôm gái ở sông Trà thú vật hơn nhiều, có phỏng?.

Nể đại ký giả Đào Tuấn lắm nên tôi cứ nhận bừa với lời hứa " nếu không bận". Gã bảo tôi " ông chỉ LỘN VỀ BẦN chứ có việc đéo gì mà nghiêm trọng". Giời ạ, nó đâu hiểu khi tôi LỘN VỀ BẦN ở HẢI DƯƠNG thời chỉ để...HƯỞNG GIAI thôi. Thật vãi nồi:))

Đoàn chúng tôi đi thảy 6 người. Xin được điểm danh tí chút:
1- Trần Đăng Tuấn, cựu Phó tổng giám đốc đài THVN.
2-Đào Tuấn, đại ký giả báo Lao động.
3- Mượt, đại ký giả, chủ bút của tuần báo Việt Nam todày aka tuần báo miễn phí Ngày Nay.
4- Đinh Đức Hoàng, xú danh Hoàng Hối Hận, đại ký giả lang thang nhỡ nhàng, mọi nhẽ.
5- Phạm Xuân Nguyên, xú danh Nguyên Lão Bạch Thủ, chủ tịch hội nhà văn Hà Nội.
6- Và tôi, Phọt Phẹt, chả ký giả đéo gì cơ mà là thằng....ký thật, hehe.

Ấy nhưng đến phút cuối thì ông Trần Đăng Tuấn giở chứng lăn ra đòi ở nhà bởi khí huyết ứ trệ và xương xẩu đấu tố lẫn nhau. Bộ lục khuyết một chân biến ngay thành... bộ ngũ. Hú hồn.


Đại ký giả Đào Tuấn đón tôi tại gia vào lúc gà còn chưa buồn gáy rồi tiện đường vớt luôn Nguyễn Lão Bạch Thủ đang còn mơ ngủ chốn bồng lai. Loạng quạng chào nhau trên xe theo lối xẩm sờ và chỉ tỉnh táo khi một giọng oanh vàng cất lên ở băng ghế trước. Bỏ mẹ, ma à? Không - Đào ký giả thảng thốt - Vợ tôi đấy. Giời ạ, đi xa, nhất nữa là đi biển mà mang theo thứ của nợ này thì chỉ có nước...chìm xuồng. Nhưng thôi, nhỡ rồi.

Tạt quán phở bên rìa đại lộ đối diện phi trường đá bữa sáng mà cứ nức nở như lên đồng khí Đào ký giả thổ lộ mục đích chuyến đi. Ấy là dự lễ trọng việc đặt viên đá đầu tiên cho đài tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa và la cà với những hẩm hiu số phận Lạc Hồng giông bão. Tôi nào quản chi nhưng cứ so bì cái nhẽ ở đời sao mãi tơi bời đến thế. Hòa hợp, hòa giải và đoàn kết dân tộc không nằm ở nghị quyết, mà nằm ở những hành vi thiện chí và chủ động của các bên. Chúng ta còn thứ tha cho kẻ thù thì nhẽ nào anh em một nhà lại gằm ghè nhau mãi thế???

Vào phi trường ngồi ngáp vặt một lúc thì Hoàng Hối Hận và chị Mượt cũng kịp đến. Chúng vẫy tôi ra ngoài hành lang hút thuốc cho đỡ buồn tình. Hoàng Hối Hận mồm ngậm thuốc, tai áp con điện thoại thông minh bi bô những gì tôi không rõ. Cái lạ là hắn cứ đi vòng quanh cây cột có đặt cái gạt tàn khổng lồ khiến lũ đứng im như bọn tôi chóng hết cả mặt. Cuộc điện thoại kéo dài dễ đến 15 phút và khi kết thúc thì thấy trán hắn u lên một cục to. Hóa ra chóng mặt nên đập đầu vào cột. Tiên nhân. Và trong suốt hành trình tôi phát hiện ra hắn mắc cái tật này khi nghe điện thoại, là đi vòng tròn. Cứ xong một cú " a lô" là lại lảo đảo như lên đồng, ngôn ngữ bình dân gọi là hội chứng " say điện thoại" hehe.

Hẳn nhiều bạn tò mò về chị Mượt chim to? Gớm chết chết, nếu các bạn gặp chị ngoài đời thì đảm bảo chạy tụt xịp. Chị có cái bản mặt mà con cá mặt quỷ phải xấu hổ nhường cho chị ngôi vị quán quân. Nó nham nhở, đen đúa, rỗ chằng rỗ chịt cộng với bộ răng nhuốm màu cải mả. Được cái chị hiền lành, ít nói và chỉ thích cười duyên theo lối Điêu Thuyền. Xấu mà biết phấn đấu như thế kể cũng là được, hehe.

Nguyên Lão Bạch Thủ nhẽ nhiều bạn biết bởi đồng chí này cùng với Đoàn Tử Huyến tiên sinh và Dương Trung Quốc sử học hợp thành bộ Tam Lão Bạch Thủ aka ba thằng đầu bạc. Bởi là đấng cao niên nên tôi tha cho cái sự xỏ xiên bố láo. Người già đích thị là bọn trẻ nít sống lâu năm, thế nên phải dỗ dành chăm lo, mọi nhẽ.

Displaying IMG_0319.JPG


Thuốc lá vặt và buôn chuyện hàng xén với nhau mãi thời cũng đến giờ check-in. Gớm chết chết, ông nào cũng quăng thẻ nhà báo mới cả nhà văn lên bàn của nhà chức trách làm tôi xấu hổ không biết để đâu cho hết bởi duy nhất tôi có cái chứng minh thư từ đời nhà Thanh. Nó cũ như những di sản phi vật thể vậy. Nhưng có hề chi khi lọt qua cửa anh ninh thì có một thằng Tây to như con Tịnh xông ra vồ lấy rồi bế bổng tôi lên quay một vòng tít mù. Cả phòng chờ ngơ ngáo. Bọn đồng hành thao láo mắt lươn. Thằng Tây hạ tôi xuống rồi lại ôm lấy đập tay vào lưng bồm bộp. Tôi chửa hiểu cái thân dậu tuất hợi gì thì nó đã thìn tị ngọ mùi bằng thứ giọng Bắc kỳ hoàn hảo " mày là Phọt Phẹt phải không?" Tôi mắt chữ A, mồm chữ O, nhưng lò xo lại chữ Z " sao mày biết?". Tao hay đọc mày trên Phây và trên Bờ-lốc. Tao học được ở mày cách nói bậy và mất dậy. Giời ạ, vinh quang chưa?


11h trưa chúng tôi đã có mặt ở Đà Nẵng, thành phố đáng sống nhất Việt Nam, nhưng cứ theo lối nói của Hoàng Hối Hận thì chả có vị gì ngoài cái cách cách cô Ngọc Trinh hay than thở, rằng chỉ " cạp đất mà ăn". Thôi thì mỗi ông một nhìn nhận. Với cá nhân tôi thì: 

Ở đâu mà nước quá trong
Ở đó sự sống sẽ không có gì
Ở đâu nước đục như chì
Sự sống cũng chẳng có gì...ở trong.


Hết chương # 1.

Thứ Ba, ngày 19 tháng 1 năm 2016

NGHĨA SĨ HOÀNG SA.



Sáng nay đọc thấy tin này: 


Anh nhớ lại một kỷ niệm nhỏ. Khoảng năm 2006, cách đây đúng 10 năm, trong một bài viết trên diễn đàn tathy, khi đề cập đến 74 người lính tử trận trong trận đánh bảo về Hoàng Sa của lực lượng VNCH, anh gọi họ là anh hùng và nói rằng đất nước cần vinh danh họ. Quan điểm ấy lúc đó bị lực lượng tuyên huấn ném đá dữ dội. Nó cũng không nhận được đồng tình từ nhiều người đọc ôn hoà khác, vì sự tuyên truyền sâu rộng Nguỵ - Ta suốt nhiều năm sau cuộc chiến Nam Bắc. Cũng có nhiều người khác, có lẽ đồng tình với ý kiến mới mẻ lúc ấy, nhưng không dám lên tiếng, vì sợ.

Có những ý tưởng, cần đến thời gian để kiểm nghiệm giá trị của nó. Cũng giống khái niệm Dân chủ pháp quyền, hiện nay nhiều người cấp tiến hô hào và coi đó là chìa khoá cho vấn nạn tụt hậu, suy thoái xã hội và cả mối nguy chủ quyền. Nhưng sự hưởng ứng ít ỏi của người dân với các phong trào xã hội hiện nay cho thấy hai vấn đề. Thứ nhất là những tư tưởng thủ cựu nhiều năm được tuyên truyền vẫn còn sức nặng ngự trị xã hội không nhỏ, dù nó đang bị xói mòn dần một cách chắc chắn. Và thứ hai, có lẽ đông đảo hơn, nhiều người đồng tình với những quan điểm đó, nhưng họ chưa đáp lời, vì sợ.

10 năm đủ để anh thấy sự thay đổi quan điểm hoàn toàn của xã hội và cả chính quyền về một ý tưởng từng được gọi là "xúc phạm anh linh liệt sỹ, bôi nhọ cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc" khi những người anh hùng chết trận lặng lẽ năm 1974 vì tổ quốc giờ đây được nhớ đến và tưởng niệm, thân nhân họ được giúp đỡ sau nhiều thập niên đắng cay. Tốc độ trưởng thành của xã hội đang ngày một nhanh, vì thế anh cho rằng những suy nghĩ bi quan về việc xã hội Việt Nam thiếu trưởng thành và không thể đạt tới văn minh cũng sẽ là một câu chuyện cười bị phản bác ngược trong không quá 5 năm tới.

Dù đại hội Đảng Cộng Sản thứ 12 có thế nào thì hướng tiến xã hội cũng chỉ có một thôi. Mọi sự thủ cựu giáo điều và ngu dốt rồi sẽ bị ném hết vào thùng rác lịch sử.

***

P/s: những lời vàng ngọc của Lãng phò, đệ anh:))


Căn hộ Giá gốc

free forum
 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang