Thứ Năm, ngày 29 tháng 12 năm 2011

Thù lao.

Tôi quen Thành đầu năm chín hai, dạo áp tải niken thuê cho một số đầu nậu xuống thành phố Riga để đóng thùng về nước.

Thành quê ở Vĩnh phú, hơn tôi 3 tuổi, làm công nhân nhà máy giầy nhưng đã bỏ việc, chuyển sang buôn bán lặt vặt và sống luôn ở kí túc xá của cô bạn gái. Thành dáng người nhỏ bé, da đen, rất nóng tính nhưng lại nguội nhanh. Tôi xuống đây và ở nhờ chỗ bạn gái Thành. Đây là kí túc xá của nhà máy dệt. Trước đây, kí túc xá này được xây cho cán bộ, nên cấu tạo theo kiểu căn hộ độc lập. Phòng của bạn gái Thành có 4 buồng ngủ dành cho 4 cô gái, thêm 4 anh bạn trai của họ và tôi thành 9 người.
Họ góp gạo thổi nấu chung như một gia đình. Tôi là khách, được ăn miễn phí và bị xếp vào ngủ cùng buồng một đôi già nhất. Các cô gái cười bảo: “Họ ít lục xục buổi đêm nên cậu có thể ngủ được”. Tôi ở đấy một tuần thì xong việc. Đêm trước hôm về, Thành gọi tôi xuống bếp hỏi chuyện:

_ Ông kiếm được có khá không? _ Thành rót cho tôi một tách trà đen.

_ Đủ ăn thôi ông! _ Tôi thả viên đường vào tách trà, khuấy đều cho tan. Tiếng thìa va vào thành cốc sứ keng keng. Tôi ngẩng lên nhìn Thành _ Ông biết đấy, số hàng trên không phải của tôi, nhì nhằng kiếm vài vé thôi mà.

_ Ông làm vàng với tôi không? Tháng làm một chuyến, may thì mỗi thằng cũng kiếm được kha khá. Ông cứ làm việc của ông ở trên ấy, bao giờ tôi gọi thì xuống, chỉ mất hai ba ngày là xong một vụ. – Thành đề nghị khá chân thành.

_ Có phức tạp lắm không? – Tôi hỏi – Mà làm những gì?

_ Lần tới đi cùng thì biết. – Thành bảo – Tôi sẽ gọi ông.

_ Đồng ý – Tôi trả lời dứt khoát. Buôn gì chả được, miễn kiếm được tiền.

Hôm sau tôi lên tầu quay lại Matxcova. Thành đưa ra tận nhà ga, mồm luôn bảo: “Nhớ đấy, nhớ đấy, bao giờ tôi gọi thì xuống”.

Nhịp sống hối hả làm tôi quên béng mất anh bạn mới quen và lời đề nghị tham gia một công việc kiếm tiền rất mơ hồ. Hơn tháng sau tôi nhận được mảnh giấy điện tín to cỡ bàn tay, có 2 chữ không dấu được đánh máy: Xuong di. Định thần một lúc tôi mới hình dung ra điện của Thành. Anh chàng này cũng tiết kiệm ghê, đánh ít chữ cho đỡ tốn tiền.

* * *

Sáu giờ sáng tàu vào ga, trời mùa đông tối om. Thành đội chiếc mũ lông sụp xuống nửa mặt, mặc một chiếc áo da mầu đen đứng co ro đợi tôi ở đầu đường ray. Nhìn thấy tôi Thành giơ tay vẫy vẫy. Tôi bảo: “Sao ông biết tôi xuống mà đón”. Thành cười khì khì, đáp: “Thì cứ tính mất 1 ngày điện đến chỗ ông, kiểu gì ông chả mua vé ngay, tôi cứ ước lượng rồi đón hú họa thế mà cũng trúng”. Tôi cười, vỗ vai Thành bồm bộp: “Đi thôi”.

Chiếc taxi Thành thuê sẵn, đậu ngoài sân ga chờ chúng tôi bắt đầu lăn bánh trong màn đêm. Hai bên đường tuyết vun thành đống, loang loáng dưới ánh đèn đường. Thành phố lùi dần phía sau lưng. Chúng tôi đi xuyên qua những cánh rừng bạch dương rũ lá trơ cành trong mùa đông lạnh lẽo. Thành bảo: “Ta đi luôn cho kịp nhé”. Tất nhiên là tôi đồng ý, vì cũng không có sự lựa chọn nào khác.

Khoảng 9h sáng chúng tôi đến một thành phố gần biên giới Litva. Thành bảo tay lái xe: “Kiếm cái ăn sáng rồi đến chỗ cũ nhé”. Tay lái xe không quay mặt lại, trả lời: “Tao biết rồi”.

“Chỗ cũ” là một cửa hàng bách hóa của thành phố, giống như Bách hóa Tràng tiền ở ta, nhưng to hơn. Mới 10h sáng, cửa hàng đã mở nhưng khách khứa thưa thớt. Thành dẫn tôi đến một quầy bán nhẫn cưới. Mấy cô nhân viên chưa già nhưng đã phát phì, béo như thùng nước gạo, cười lóe xóe: “À, cậu bé”. Dường như họ đã rất quen nhau.

Theo qui định từ thời còn Liên xô, bất cứ đôi trai gái nào dẫn nhau đến tòa đăng kí kết hôn sẽ được tiêu chuẩn mua nhẫn cưới với giá ưu đãi. Tại thời điểm ấy giá ưu đãi chỉ bằng 1/3 giá chợ đen. Liên xô đã vỡ, nhưng cái qui định quái quỉ này chưa vỡ. Ở những vùng xa xôi như thế này, người dân vẫn được mua một đôi nhẫn, còn Thành mua được cả ki lô nhẫn với giá cao hơn một chút giá nhà nước cùng dăm thỏi son bằng đất sét nhuộm phẩm đỏ.

Chiếc xe lại lăn bánh đến thành phố khác tại Litva. Kịch bản vẫn tương tự, nhưng chỉ mua được chừng một vốc tay.

Qua Litva Thành chạy sang Extonhia. Cửa hàng bách hóa là một tòa nhà xập xệ 2 tầng. Bà cửa hàng trưởng nghỉ ốm ở nhà. Thành nhìn những chiếc nhẫn để trong tủ kính thèm thuồng, phẩy tay, bảo tôi: “Để dành lần sau vậy”.

Chiều hôm ấy chúng tôi quay về Riga khi thành phố bắt đầu lên đèn. Hằng, cô bạn gái của Thành đã chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn thết đãi bạn bè.

Nhấp một ngụm rượu, Thành bảo: “Hôm nay như thế là cũng tạm. Có lần tôi xúc được ba cân”.

Tôi đặt bát xuống, cười: “Khiếp, một ngày tính ra đi 3 nước. Mà cái “làm vàng” này của ông hóa ra cũng chả có gì phức tạp nhỉ”.

Thành không nói gì, đưa bát cơm lên húp soàn soạt, đũa khoắng như mái chèo.

Hôm sau Thành đi cùng tôi lên Matxcova bán vàng. Những chiếc nhẫn cưới được nậy bỏ mặt đá, đổ vào rổ đặt lên bàn cân, y như thịt cá ngoài chợ. Thành chia cho tôi hơn 1 ngàn, bảo: “Tháng sau ông lại xuống nhé”. Tôi cầm tiền, nhưng gờn gợn cảm giác gì đó không lý giải được. Thành giơ tay chào tôi rồi biến mất trong dòng người đang hối hả chui xuống Metro.

Tuổi trẻ vốn không suy nghĩ nhiều, những lợn gợn về phi vụ “làm vàng” cũng tan nhanh như tuyết tháng tư. Cho đến hôm tôi lại nhận được bức điện: Xuong di. Cầm tờ giấy điện tín trong tay, tôi tự hỏi: “Có nên xuống tiếp không? Tiền của nó, khốt(*) của nó. Mình chỉ đi theo, mà chả phải làm gì. Tại sao nó lại chia tiền cho mình?” Hôm ấy tôi không mua vé ngay như lần trước. Nằm một đêm suy nghĩ, vẫn không có câu trả lời nào thỏa đáng nên lại quyết định đi thêm lần nữa xem sao.

Thành đi đón nhưng không được, cậu ta đành đi một mình vì xe đã thuê.

Tôi xuống Riga muộn hơn một ngày. Thành vẫn đang ngủ vùi vì hôm trước về muộn. Mở cửa cho tôi là đôi già đêm ít lục xục. Chị già tíu tít hỏi: “Ăn sáng nhé, để chị làm cái gì đó cho em”. Anh già kéo tôi xuống bếp bảo: “Làm ấm trà bắn bi thuốc lào đã”. Tiếng điếu làm bằng ống nhôm vang lên òng òng. Bên ngoài, qua ổ cửa kính nhầy mỡ, vẫn tối đen như mực.

Tôi ngồi xuống, nhấp một ngụm trà nóng bốc khói. Anh già vừa nhả khói, vừa nấc nấc: “Thằng …Thành… cứ… lo… em không xuống”. Tôi bảo: “Có gì mà lo, em không xuống thì nó vẫn làm như trước đây có sao đâu”. Anh già thò tay vê thêm một bi thuốc lào nữa, gật gù: “Cũng lo phết đấy…”.

Tôi đợi anh nói tiếp, nhưng tiếng điếu lại vang lên òng ọc nên ngồi im. Vừa lúc ấy Thành dậy, vẫn trong cái quần ngủ đông xuân mầu trắng cháo lòng đũng xệ như ỉa đùn, chạy bành bạch vào bếp, mừng ra mặt: “Có xuống… có xuống… tôi tưởng ông không xuống nữa”.

Tôi chống chế: “Tôi bận nên xuống muộn một hôm”.

Thành bảo: “Hôm qua đi nhưng chưa hết, để hôm nay có ông thì đi tiếp”.

Anh già thấy Thành dậy thì thôi không tiếp tục câu chuyện, chuyển sang chủ đề dưa cà mắm muối, đô lên đô xuống, thằng nào ốp giầy vừa có con với phò Tây… Một lúc sau chị già nấu xong một nồi mì to như nồi cám, khua mọi người dậy ăn còn đi làm.

Hôm ấy mãi gần 10 giờ xe mới đến, Thành bảo: “Muộn rồi nên hôm nay mình đi hai chỗ thôi”. Tôi bảo: “Mấy chỗ mà chả được”.

Trên xe mấy lần tôi định hỏi Thành, ngập ngừng ú ớ lại thôi, bụng bảo dạ đợi xong việc thì nhất định sẽ làm rõ cho ra ngô khoai. Thành bảo: “Hôm nay chủ nhật, chắc tay bác sỹ có nhà”. Tôi hỏi: “Tưởng đi mua vàng, lại đi mua thuốc à”. Thành trả lời: “Mối này lâu lắm chưa qua, thằng bác sỹ này có nhiều Lanh cô xin lắm. Nó lấy trộm từ bệnh viện”. Ngừng một lát, Thành nhìn tôi rồi tiếp: “Tôi không qua vì thằng này bị bệnh. Một lần nó đè được tôi xuống, đóng phát vào đít làm tịt ỉa mất mấy hôm”. Tôi bật cười thành tiếng: “Ô thằng này nghịch nhỉ”. Thật tình là trong kiến thức của tôi lúc ấy chưa xuất hiện khái niệm gay hay quan hệ tình dục đồng giới. Tôi chỉ nghĩ trò đùa như tôi vẫn hay làm, chắp tay lại xiên vào đít bạn bè một phát rồi cười lăn lộn khi thấy bạn nhăn nhó vì đau. Tôi bảo: “Ông yên tâm, tôi sẽ cảnh giác”.

Tay bác sỹ mặt bợt bạt như chết trôi, đeo một cái kính tròn ngồ ngộ, nói giọng kim the thé. Hắn nhìn tôi thăm dò. Thành bảo: “Bạn tao đấy, mày không lo đâu”. Hắn gật gật rồi bê ra một túi thuốc lớn, bảo: “Thuốc này bọn kia đặt rồi, nhưng mày đến trước thì tao bán cho thôi”. Cùng lúc ấy có tiếng chuông cửa, bên ngoài có tiếng Việt lao xao nói chuyện. Sắc mặt Thành chuyển sang tai tái.

Cánh cửa hé mở, tay bác sỹ đứng chắn ngang cửa, bảo: “Bán rồi, lần sau qua đi”. Tôi kịp nhìn thấy mấy khuôn mặt quen trong lần đụng chạm vụ đóng niken mấy tháng trước nên giơ tay chào. Mấy cậu cũng cũng nhận ra tôi, khẽ gật đầu rồi quay đầu ra về. Mồ hôi chảy thành dòng trên mặt Thành, nhỏ tong tong xuống mặt bàn. Tôi nhắc: “Trả tiền để còn đi tiếp”. Thành như chợt tỉnh, lập cập móc tiền trong túi ra đếm. Đang đếm tiền lại gập cất vào túi, bảo: “Đếm thuốc trước đã mới tính được tiền chứ”.

Gần một tiếng sau mới thanh toán xong. Tay bác sỹ tiễn ra đến chân cầu thang còn nháy mắt với tôi: “Lần sau tao để thuốc bán cho mày”. Tôi hớn hở: “Đồng ý”.

Chiều hôm đó Thành còn kịp qua một cửa hàng bác hóa, cô cửa hàng trưởng xúng xính trong bộ áo cánh dơi made in Cổ nhuế, kẻ cả: “Có bọn Việt nam trả giá cao hơn mày, tao đang cân nhắc”. Thành lập bập nói không ra hơi: “Tao trả bằng chúng nó, bán đi. Dù sao tao cũng là mối quen biết, an toàn cho mày”. Vụ mua bán diễn ra nhanh chóng, Thành mua được vài lạng nhẫn vàng.

Trên đường về Thành bảo: “Mai tôi với ông lên Mát nhé. Lờ lãi vẫn chia như trước, cộng luôn cả chỗ hôm qua tôi mua được”. Tôi bảo: “Tôi không lấy đâu”. Thành quay mặt ra cửa kính. Bên ngoài tuyết đã tan gần hết, đường lầy lội, bùn bắn lên kính mờ tịt. Tôi nói tiếp: “Tôi có giúp gì được cho ông đâu, nhận tiền vô duyên bỏ mẹ”. Thành quay lại bảo: “Không có ông hôm nay không mua được thuốc đâu. Ông biết bọn ấy rồi đấy. Gấu lắm”. Tôi văng tục: “Gấu thì làm đéo gì nhau. Ông đến trước mua trước. Thế thôi”. Thành lẩm bẩm: “Bọn ấy nó cướp mất mối thuốc của tôi cả năm nay”. Tôi gật gù: “Ra thế… ra thế. Giờ ông sợ nó cướp tiếp mất mối vàng nên lo đúng không?” Thành bảo: “Tôi nghĩ ông chơi với hội ấy nên có thể nói chuyện được”. Tôi cười: “Đánh nhau thì tôi không ngại, nhưng đấy là việc khác. Việc này là miếng mỏ, tôi nghĩ chúng nó chẳng vì tôi mà nhả ra đâu. Để tôi tính xem sao”.

Đấy là tôi cứ nói vậy cho Thành yên lòng chứ thật ra tôi chưa biết xử trí thế nào. Tôi, như một nhân vật đang được đặt trong vị trí của kẻ bảo kê cho khốt làm ăn của Thành nếu hiểu một cách sòng phẳng là như vậy. Nhưng nếu sòng phẳng như thế thì dễ quá, chỉ cần từ chối là xong. Còn một cách hiểu khác: Tôi, một kẻ đang nhặt những đồng xu lẻ kiếm ăn, được Thành chia sẻ cho mối làm ăn. Đó là tình cảm bạn bè, là ơn huệ mất rồi. Mà những gì thuộc về tình cảm hoặc ngụy trang dưới tình cảm lại không cân đong đo đếm được.



Tôi sẽ phải xử lý tình huống thỏa mãn hai góc độ trên sao cho thật khéo. Tôi bảo Thành: “Thế này nhé. Tôi cũng chưa biết nên nói chuyện với chúng nó ra sao đâu. Nếu tối nay chúng nó đánh ông, tôi sẽ đánh lại. Thua thắng không biết thế nào, nhưng tôi cứ nhảy vào chiến đã. Thống nhất thế nhé! Đụng chân đụng tay rồi mới có cớ để nói chuyện, tôi sẽ tùy cơ ứng biến xem chúng nó thế nào, mà mềm nắn rắn buông! Còn tiền thì tôi không nhận đâu”.



Thành không nói gì, ném ra một tiếng thở dài não nề.



Tối hôm ấy không có biến cố gì xảy ra. Không ai xuống tìm tôi hoặc Thành để nói chuyện phải trái. Hôm sau Thành theo tôi lên Mát bán vàng. Tôi chủ động chia tay ngay khi tầu vào ga để Thành không có cơ hội giúi tiền bắt nhận. Cũng không thấy Thành dặn: “Tôi điện ông nhớ xuống” như mọi lần.



Sang tháng 5, tuyết đã tan hết, cả Châu Âu lột xác cởi bỏ mầu trắng xám nặng nề khoác lên mình mầu xanh tươi của lá non và ánh nắng vàng rực rỡ. Tôi hăm hở chuẩn bị kế hoạch ăn chơi cho mùa hè thì lại nhận được điện của Thành. Lần này bức điện dài hơn, chứa đựng nhiều thông tin hơn: Xuong du dam cuoi cua toi voi Hang ngay… thang 5.



Vậy là Thành sẽ lấy vợ. Tôi tính ngày rồi đi mua vé. Việc trăm năm của bạn, cho dù mới quen, không thể không có mặt.



Thành vui lắm khi tôi xuất hiện ở Riga trước ngày cưới một hôm. Tối hôm ấy, 4 tay đàn ông ở phòng ấy cộng với tôi là năm ngồi quây bên mâm rượu đêm sau khi đã chổng mông kê kích bàn ghế nhà cửa và chuẩn bị tươm tất cho hôn lễ hôm sau. Qua một tuần rượu, Thành bảo: “Bọn tôi về nước ông ạ”. Tôi hỏi và nhướn mắt nhìn mấy tay đàn ông: “Về hẳn à? Còn mọi người thế nào?” Thành trả lời: “Vợ chồng tôi về thôi, còn các bác đây tùy nghi di tản”. Tôi lại hỏi: “Về Việt nam ở đâu? Quê ông hay lên quê vợ?” Thành nói chưa biết, bảo có thể sẽ ở nhà ông bố dượng ở Hà nội. Thành chép cho tôi địa chỉ vào sổ, hẹn lúc nào về phép rẽ qua chơi. Thành ghé tai tôi thì thầm: “Hằng có thai 3 tháng rồi. Bọn tôi phải cưới cho các cụ ở nhà yên tâm”. Tôi hi hi cười: “Trai gái biết chưa?” Thành xìu xuống: “Gái”.



Có tí rượu tôi ngủ lăn quay ở góc nhà từ lúc nào không biết. Tàn cuộc rượu thấy anh già đá đá vào mạng sườn bảo: “Thằng này, vào buồng ngủ đi em”.



Cưới xong Thành cùng vợ về nước. Đám cùng phòng tứ tán khắp nơi tôi cũng không có tin tức gì.

* * *

Mùa hè năm chín ba, tức sau 1 năm Thành về nước, tôi bất ngờ gặp Thành và Hằng trên Matxcova. Họ đang đứng bán hàng ngoài chợ như bao người Việt khác. Mới một năm mà Thành khác đi nhiều, già hơn, khắc khổ hơn như thể hàng chục năm không gặp. Thành vừa tỏ ra vui mừng, vừa không giấu được bối rối như thể không muốn ai biết sự hiện diện của vợ chồng Thành trên đất nước này. Tôi hỏi: “Sang lâu chưa? Sao không qua chỗ tôi” Thành trả lời: “Sang được 2 tháng rồi. Ở nhà khó kiếm ăn quá vợ chồng tôi lại dắt nhau sang đây”. Tôi hướng sang Hằng hỏi: “Cháu thế nào? Có mang đi cùng không?” Hằng rơm rớm nước mắt, bảo: “Được 6 tháng rồi anh. Em gửi ông bà ngoại”. Tôi rút bao thuốc, cắm một điếu lên mồm, tay lần lần tìm bật lửa, tiện thể đưa bao thuốc cho Thành, bảo: “Này, làm một điếu đi”. Thành xua tay: “Không không, tôi bỏ thuốc 4 tháng nay rồi”. Tôi bật lửa châm thuốc, rít một hơi dài, khói xì qua lỗ mũi, hỏi: “Sao phải bỏ, sợ lao phổi hả?” Thành quay đi chỗ khác, nói: “Tiết kiệm”. Tôi lại giúi giúi vào tay, cứ làm một điếu đi, rồi lại bỏ sau. Thành quay lại, thò tay nhón một điếu, rít sâu, nhả khói từ từ, mắt lim rim hưởng thụ. Tôi hỏi: “Thuê nhà ở đâu?” Thành vẫn đang mải rít thuốc không trả lời. Hằng bảo: “Bọn em thuê một phòng trong kí túc của trường Đoàn”. Tôi đề nghị: “Cho cái địa chỉ, mấy hôm nữa tôi qua chơi”. Tôi có việc phải đi ngay sau khi giúi vào tay Thành bao thuốc đang hút dở.

Một tháng sau tôi rủ cô bạn gái qua thăm vợ chồng Thành. Họ ở trong một căn buồng khoảng bảy tám mét vuông. Góc buồng kê một chiếc giường sắt đơn, chăn đệm cáu bẩn, nhàu nhĩ. Đầu giường dựng 2 chiếc xe kéo, loại xe chuyên dụng, vật bất ly thân của những người bán hàng ở chợ. Xung quanh bao tải lớn bé xếp chồng. Hằng tất bật chuẩn bị cơm nước mời chúng tôi. Thành rút bao thuốc trong túi ra, hút một điếu, nhìn tôi, bảo: “Tôi thù ông lắm”. Tôi hỏi: “Thù gì”. Thành cười: “Tôi quyết tâm mãi mới bỏ được thuốc. Bao thuốc của ông làm tôi nghiện lại”. Nói rồi khuôn mặt Thành thoáng buồn: “Thế là không tiết kiệm được”. Tôi cười hơ hơ: “Gớm, đáng bao nhiêu mà lo lắng thế”.

Vợ chồng Thành vui lắm. Cô bạn gái tôi cũng vui. Họ nói chuyện như ngô rang và hẹn nhau những cuộc gặp gỡ sắp tới.

Lần sau chúng tôi quay lại thì vợ chồng Thành đã về nước. Hàng xóm bảo ở đây cũng khó làm ăn quá nên họ quay về. Tính ra thời gian họ ở Nga được 4 tháng.

Cuối năm đó tôi và cô bạn về phép, tạt qua nhà bố dượng tìm vợ chồng Thành nhưng không gặp. Ông bố dượng bảo vợ chồng Thành ở nhà ngoại, ở tỉnh T.

Cuối năm chín nhăm, tôi về nước, lại đến nhà ông bố dượng tìm Thành. Căn nhà đóng cửa im ỉm. Ông bố dượng đã về hưu và trở về quê sống. Tôi không còn mối liên hệ nào với Thành nữa nên bỏ ý định tìm cậu ta.

Năm chín sáu, tình cờ gặp một thanh niên ở quá nước vỉa hè. Cả hai nhìn nhau ngờ ngợ, một lúc thì nhận ra nhau. Tôi hỏi: “Ông về lâu chưa?”. Thanh niên kia trả lời: “Đấy, về cùng đợt với vợ chồng Thành. Nhà máy giải tán, làm ăn cũng khó nên bọn tôi về”. Câu chuyện dắt tôi quay lại vụ “làm vàng” cùng Thành năm xưa. Thanh niên kia chính là một trong những người tôi gặp ở cửa nhà tay bác sỹ. Tôi thanh minh: “Thật với ông là hồi ấy tôi có biết chuyện gì đâu. Tôi thấy Thành rủ đi thì đi. Sau biết là các ông đang tranh giành nên cũng rút”. Thanh niên kia bảo: “Tối hôm ấy bọn tôi cũng tính nói chuyện phải trái với ông. Nhưng cuối cùng lại thôi, bảo đợi thêm lần nữa xem sao”. Tôi cười: “May nhỉ. Tối hôm ấy mà đụng khéo đầu rơi máu chảy. Những lần sau tôi không đi nữa”. Đến lượt tay thanh niên cười: “Cũng chẳng còn lần sau. Tay bác sỹ bị bắt. Vàng thì tăng giá lên ngang với chợ đen. Thế nên vợ chồng Thành nó mới về”. Tôi hỏi: “Ông có tin tức gì về vợ chồng nó không?”. Tay thanh niên kia bảo: “Bỏ nhau rồi. Thành lang thang không nhà không cửa, năm nào cánh công nhân ở Riga cũng gặp nhau 1 ngày ôn lại kỉ niệm”. Tôi bảo: “Nếu ông gặp nó thì nhắn nó tìm tôi nhé”.

Một chiều hè năm chín bảy, ánh nắng đã gần tắt, tôi đang sửa soạn ra về thì thấy nhộn nhạo ngoài cổng công ty. Thành tóc tai rũ rượi, bết lại từng mảng. Giữa mùa hè nhưng anh ta vận chiếc áo da đen dày cộp, cứng quèo bằng da giày ăn cắp ở nhà máy, là chiếc áo được mặc khi đón tôi lần đầu ở ga. Nhìn thấy tôi, Thành rút từ trong người ra một con dao phay, khua khua trên đầu, miệng lảm nhảm: “Nhà nước cấp cho tao giấy phép chém người. Tao vừa chém một thằng cảnh sát giao thông đấy. Thằng nào cản tao nào”. Tôi bảo tay bảo vệ: “Bạn tôi đấy. Cho vào đi”. Tay bảo vệ nhìn tôi như từ trên trời rơi xuống.

Nhấp một ngụm trà nóng tôi pha, Thành đặt con dao phay xuống bàn, thò tay móc một túi nhựa vàng ố trong người. Thành nhắc lại: “Tớ bị tâm thần. Nhà nước cho tớ chém người thoải mái mà không bị tội”. Tôi nhận ra cách xưng hô với tôi đã thay đổi. Từ tôi chuyển sang tớ, nghe thân mật hơn. Tôi cười: “Nào kể xem đầu đuôi thế nào”.

Sau khi từ Matxcova trở về, vợ chồng Thành về hẳn quê vợ. Họ dồn tiền mua một mảnh đất và cất một ngôi nhà hai tầng. Hằng xin được một công việc ở cơ quan bố. Thành loay hoay tìm việc không được đành đi làm phu hồ. Tình cảm vợ chồng cũng nguội lạnh dần theo năm tháng cộng với áp lực cuộc sống quá cao. Trong một tai nạn lao động, Thành bị ngã từ trên giàn giáo tầng 3 xuống đất, gãy hai đùi, may mà không chết. Thành phát bệnh tâm thần và họ ly dị nhau. Thành ra đi với chiếc xe máy cà tàng mang tên bố dượng, không tài sản, không con cái. Cậu ta lang thang cả năm nay trên chiếc xe, ăn bờ ngủ bụi, sống dựa vào lòng tốt của bạn bè cũ để đi tìm công lý.

Tôi bảo: “Đưa hồ sơ đây tôi xem nào”.

Thành đưa tôi chiếc túi nhựa ố vàng. Bên trong là những giấy tờ được photo sờn rách, nhưng đủ cả những loại cần thiết. Tôi xem xong một lượt. Hỏi: “Giờ ông muốn gì”. Thành bảo: “Tôi muốn được chia nửa cái nhà và nuôi đứa con gái”. Tôi bảo: “Tôi có thể giúp ông lấy lại nửa cái nhà, nhưng con thì không. Ông không đủ năng lực hành vi dân sự để Tòa giao nuôi con”. Thành bảo: “Bố nó trước cùng đơn vị với ông K. Mà ông K giờ về TW làm to lắm cậu biết không? Giờ bố nó quát một tiếng cả huyện sợ”.

Tôi đưa cho Thành ít tiền, bảo về đi, để lại giấy tờ cho tôi rồi liên lạc lại sau. Thành đứng dậy, với con dao phay giắt vào thắt lưng, miệng lảm nhảm: “Chém… chém hết”. Lúc này trời đã tối, chiếc xe máy 82 mầu cửu long của Thành mất hút vào bóng đêm, vọng lại tiếng nổ cành cạch của đôi su páp bị mòn.

Ngay trong tuần ấy tôi phóng xe lên tỉnh T. Phải nói thêm là lúc này tôi đã mở một công ty để kinh doanh, đồng thời đang tập sự ở đoàn luật sư H. Tôi đứng trước cổng Tóa án nhân dân tỉnh T một lúc rồi quyết định chưa vào đó. Tôi tìm đoàn luật sư tỉnh T và muốn tham khảo ý kiến các đồng nghiệp trước khi hành động.

Sau một hồi hỏi han, hóa ra tỉnh T không có đoàn luật sư. Chỉ có mấy viên chức tư pháp về hưu kiêm nhiệm luật sư chỉ định ở những vụ án mà pháp luật qui định. Họ làm việc ở dãy nhà cấp 4 phía sau Tòa án, nơi kết thúc một con dốc bằng đất đỏ. Chiếc xe Honda Accord mầu trắng của tôi kéo theo một vệt bụi đỏ lòm mù trời rồi dừng lại trước dãy nhà cấp 4.

Tiếp tôi là một cụ tầm 70 tuổi, chân tay rung bần bật. Cụ là luật sư M, xưa kia là thư kí Tòa án. Tôi vào đề luôn: “Thưa chú, cháu muốn lật lại một vụ án dân sự và muốn tham khảo ý kiến của chú”. Cụ M giọng run run do tuổi cao, rót cho tôi cốc nước, hỏi: “Anh có những gì rồi”. Tôi trình bày: “Vụ ly hôn này vi phạm tố tụng. Đương sự bị tâm thần phân liệt, không đủ năng lực hành vi dân sự nhưng không có người giám hộ. Quyết định thuận tình ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực hơn 1 năm nay và đương sự không được hưởng gì trong số tài sản chung phát sinh sau hôn nhân. Cháu muốn lật lại theo trình tự Giám đốc thẩm”.

Cụ M móc cái kính mốc thếch từ trong người ra, đeo lên mắt, đón tập hồ sơ từ tay tôi, nhấm nhấm nước bọt vào ngón tay trỏ, chậm rãi giở từng trang. Một lúc sau cụ ngửng lên, kéo cặp kính trễ xuống sống mũi, cụ nhìn tôi, bảo: “Anh nói đúng rồi, thiếu người giám hộ”. Cụ quay ra cửa nhìn chiếc xe o tô bám bụi đường đỏ ngầu như phù sa, rồi lại nhìn tôi chăm chú, một lúc sau cụ mới hỏi: “Tôi hỏi khí không phải. Anh quan hệ thế nào với đương sự”. Tôi trả lời ngay không chút đắn đo: “Là bạn chú ạ”. Cụ M cúi xuống tập hồ sơ, chậm rãi xem lại, vẫn giọng run run, cụ bảo: “Anh để hồ sơ lại đây, tôi sẽ giúp anh. Trước hết phải nhờ anh em bên Tòa án tỉnh kiểm tra lại vụ này dưới huyện cho chắc chắn rồi mới tính tiếp được. Những gì anh mang đến chỉ là bản sao photo nên chưa thể nói được gì”.

Tôi cảm ơn cụ M rồi ra về. Cụ lập cập tiễn tôi ra đến xe. Qua gương chiếu hậu còn nhìn thấy bàn tay xương xẩu già nua vẫy vẫy cho đến khi khuất hẳn sau khúc ngoặt.

Hai tuần sau tôi điện lại cho cụ M. Bên kia đầu máy cụ bảo: “Anh em đang kiểm tra, chưa có tin tức gì”.

Hai tuần nữa tôi lại điện, cụ bảo: “Kiểm tra rồi, đúng như anh nhận định, ta có thể triển khai theo hướng giám đốc thẩm”. Tôi bảo: “Mai cháu lên”.

Vẫn tiếp tôi trong căn nhà cấp 4 xiêu vẹo, nhưng cụ M có vẻ cởi mở hơn rất nhiều. Cụ hỏi: “Sao anh không vào đoàn luật sư Hà nội, lại phải về đoàn luật sư H là gì cho xa”. Tôi bảo: “Chú ở trên này nên không biết. Vào đoàn luật sư Hà nội khó hơn lên giời. Vừa rồi kết nạp mấy trường hợp, nhưng đấy là ông bà nghỉ thì cho cháu vào thế chỗ, không có người ngoài đâu chú.” Cụ M bảo: “Để tôi giới thiệu anh cho chủ nhiệm Q, trước đây chúng tôi là bạn”. Tôi xua tay: “Cháu cảm ơn chú, nhưng chắc không cần đâu, ở đoàn luật sư H cháu cũng sắp hết thời hạn tập sự rồi, chuẩn bị lên chính thức”. Cụ M cười cười: “Anh là một luật sư đã trưởng thành”.

Hướng đi của tôi vạch ra khá chuẩn. Vấn đề còn vướng là tìm cho Thành một người giám hộ. Theo luật, trường hợp này do UBND phường xã sẽ chỉ định và tôi có thể tác động để tôi được là người chỉ định. Nhưng tôi không muốn thế, bởi Hằng cũng là bạn tôi. Tôi bảo vệ và đại diện cho Thành về quyền lợi lẫn nghĩa vụ, đối lập với quyền lợi và nghĩa vụ của Hằng. Như hiểu được nỗi khó xử của tôi, cụ M lại nhận giúp chuyện này.

Cụ M bảo: “Anh có thể đứng với tư cách luật sư trong vụ án này cũng được, nếu muốn. Còn ngại thì thôi. Những gì anh làm đến thời điểm này là sự chuẩn bị rất cẩn thận của một luật sư đã trưởng thành. Tôi nói trưởng thành là ở cái tâm. Luật sư phải có cái tâm mới làm được. Tôi sẽ đứng ở vị trí giám hộ, vẫn có thể bảo vệ quyền lợi cho đương sự trước tòa như luật sư, không cần phải có anh nữa vì vụ án này cũng đơn giản. Chiều nay tôi sẽ sang Viện kiểm sát tỉnh một lần nữa xem sao. Hôm trước ngoài lề tôi cũng đã báo việc này với viện trưởng rồi”

Sau một thời gian ngắn chạy đi chạy lại của hai chú cháu, vụ án được xử lại theo trình tự Giám đốc thẩm. Ngày tòa xử, tôi có lên nhưng không vào dự. Ngồi nấp trong quán nước trước Tòa, tôi nhìn thấy đôi mắt đỏ hoe của Hằng và nụ cười hớn hở của Thành khi họ ra về. Tôi biết kết quả của bản án. Lòng tôi buồn nặng trĩu.

Tôi qua nhà cụ M, ngồi rất lâu nhưng không biết nói gì. Tôi định cảm ơn cụ một ít tiền, như là đã thuê cụ làm việc này cho tôi, một sự trao đổi hết sức bình thường của giới luật sư. Cãi và hưởng hoa hồng. Cụ M không nhận, bảo: “Anh giúp bạn anh, một người tâm thần. Tại sao tôi không giúp được anh, một người hết lòng vì bạn”.

Thành được chia một số tiền. Tôi bắt cậu ta về Vĩnh phú mua đất quay lại với cuộc sống của anh nông dân như trước khi đi xuất khẩu lao động. Anh ta cần một cuộc sống thanh bình sau những gì đã trải qua.

Một năm sau Thành lên Hà nội tìm tôi. Cậu ta cầm theo một gói giấy báo lùm lùm to hơn bàn tay một tí, bảo: “Tớ có mấy lạng bột sắn cho thằng cu nhà cậu trồng từ mảnh đất mua được sau khi cậu giúp tớ. Quà nhỏ nhưng là tình cảm. Cậu nhận cho tớ”.

Tôi rất cảm động và vui mừng vì món quà này. Không quên đưa cho bạn thêm ít tiền, dặn phải trồng thêm cái gì, nuôi thêm con gì cho cuộc sống sung túc hơn.

Tôi cầm gói bột sắn về cho vợ. Bảo: “Đây là thù lao đỉnh cao của đời làm nghề”. Vợ tôi cũng vui, vì cô ấy cũng chính là cô gái tôi dẫn đến chơi với vợ chồng Thành hồi ở Mát.

Vĩ Thanh.

Bạn đọc có thể coi đây là một truyện ngắn với những tình tiết hư cấu, cũng có thể coi là một đoạn hồi ức của người viết, thậm chí là một câu chuyện bông phèng của người già hay kể về quá khứ oai hùng cho lũ trẻ sau khi làm chén rượu Tết. Nghĩ về câu chuyện này thế nào cũng được. Tôi không phản đối.

Với tôi nó là một kỉ niệm buồn, nhưng không có ý định tìm hiểu tại sao nó buồn.

Các bạn sẽ có một truyện ngắn đầy nhân văn nếu câu chuyện dừng lại đúng lúc ở chi tiết gói bột sắn dây. Nhân văn quá đi chứ. Một người bạn thoảng qua trong đời mà người viết truyện này lặn lội ngược xuôi giúp đỡ, một luật sư già cảm kích trước tình bạn không vụ lợi nên cũng ghé vai gánh vác cùng một vụ án tưởng đơn giản mà cũng phức tạp bởi các quan hệ thân hữu với vai vế trên TW. Cuối cùng họ vẫn chiến thắng và nhận thù lao là một gói bột sắn dây, như là đón chào sự trở về của một thân phận kém may mắn.

Nhưng cuộc đời phức tạp, không tròn trịa như một truyện ngắn. Thành vẫn tiếp tục gặp tôi với tập hồ sơ khác, nhờ tôi đi kiện nước Liên xô đã đánh cắp tuổi trẻ cậu. Cậu đòi lấy vợ, phải là sinh viên chứ không phải nông dân. Cậu ta muốn tôi đầu tư cho một hồ nuôi cá rộng mấy héc ta. Muốn tôi đầu tư đất đai ở quê cậu, nhưng tôi từ chối. Rồi những câu chuyện người này tìm cách giết cậu, người kia hãm hại cậu và cậu đã phải chiến đấu vật lộn với nó ra sao được kể lại trong mỗi lần gặp. Tôi lại gửi cậu ấy ít kinh phí đi đường.

Thành lúc tỉnh, lúc mê. Tôi chỉ muốn cậu ấy sống một cuộc sống bình thường. Như có vẻ cậu ấy không muốn thế.

Tôi chuyển trụ sở công ty, thay số điện thoại, kết thúc một mối quan hệ.

Tôi cũng không được trở thành luật sư chính thức vì nhiều nguyên nhân, kết thúc một nghề mất 2 năm tập sự.

Tôi có cảm giác rằng Thành không điên, nhất là khi nói về tiền. Và tôi không có ý định tìm hiểu sự thật này @ truyện của Doãn Dzũng, đệ anh.
Olá! Se você ainda não assinou, assine nosso RSS feed e receba nossas atualizações por email, ou siga nos no Twitter.
Nome: Email:

6 comments

Nặc danh 23:36 Ngày 19 tháng 03 năm 2012

chuyện này chắc chắn không phải là hư cấu. vì nhân vật trong truyện rất giống một người họ hàng bên vợ tôi.Anh ấy tên là Đạt quê ở Hạ Hòa Phú thọ. những năm cuối 80 đầu 90 anh ấy ở Riga, còn tôi ở Astrakhan

Reply
phot_phet 00:02 Ngày 20 tháng 03 năm 2012

@Nặc danh
Xin được chia sẻ cùng anh. Đó hầu như là một bi kịch đớn đau của con dân nước Việt.

Reply
phot_phet 00:02 Ngày 20 tháng 03 năm 2012

@Nặc danh
Xin được chia sẻ cùng anh. Đó hầu như là một bi kịch đớn đau của con dân nước Việt.

Reply
Xinh đẹp 11:01 Ngày 18 tháng 08 năm 2013

@ bài viết "THÙ LAO"
Hôm nay tôi mới đọc bài này. Xin chia sẻ với những người tham gia trong cuộc "Máu Tuyết" Đông Âu thời kỳ đó, trong đó có bố mẹ tôi, giảng viên ĐH, phó tiến sỹ, cũng phải xông vào công việc kiểu thế như nhiều trí thức và những công nhân xuất khẩu lao động khác... Gia đình tôi cũng có một nỗi buồn không tả xiết, giờ tôi cũng chưa đủ can đảm để viết ra... Con trai một của người thầy bậc nhất ngành châm cứu VN cũng để lại xác trong cuộc...đó. Tôi không nhiều vốn từ nên không biết gọi là gì, vẫn phải dùng từ mà ai đó đã đặt tên là "Máu Tuyết"...

Reply
Gà Trống Chuồng 06:10 Ngày 28 tháng 06 năm 2014

quen giờ bóng đá đéo ngủ được. vào đây tìm đọc lăng nhăng giống như hồi học sinh nghèo vượt khó nhặt nhạnh những mẩu vụn bánh mỳ còn xót lại. đọc lại cái chiện này ngẫm nghĩ phết mà cũng đéo biết nghĩ về cụ thể cái gì và tất nhiên là có lien tưởng đến ls phẹt. đọc còm lại nhớ mụ xinh vì quá si tình với lão phẹt mà bị đá và tự out chẹp chẹp. dcm đời nhạt như cái còm này vậy!

Reply
Gà Trống Chuồng 06:11 Ngày 28 tháng 06 năm 2014

à quên trước khi cút cho tôi thắp nén nhang tưởng nhớ chị Xinh huhu!

Reply

Đăng nhận xét

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang