Thứ Sáu, ngày 15 tháng 7 năm 2016

PHÁN QUYẾT CỦA PCA & HỆ LỤY VỚI VIỆT NAM



Lợi rõ ràng: Tòa Trọng tài (PCA) tuyên bố "đường chín đoạn" của Trung Quốc là không có cơ sở pháp lý, đồng thời Trung Quốc "không có chủ quyền lịch sử" tại Biển Đông.

Chỉ có vậy!

Phán quyết về những nội dung khác, dù bất lợi cho Trung Quốc nhưng không hẳn có lợi cho Việt Nam, có nội dung hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam. Một số nội dung phán quyết cũng không hoàn toàn có lợi cho Philippines.

Đối với 7 đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng ở Trường Sa, PCA tuyên rằng Gạc Ma, Châu Viên, Chữ Thập và Gaven là các cấu trúc nổi trên mặt nước vào lúc thủy triều lên cao (đá), có lãnh hải 12 hải lý, còn Xu Bi, Tư Nghĩa, Vành Khăn là các cấu trúc chìm khi thủy triều lên (bãi, không có 12 hải lý lãnh hải, chỉ có 500m vùng an toàn. Việc PCA tuyên rằng 7 đảo nhân tạo này không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) và thềm lục địa không có nhiều ý nghĩa, vì đó là điều hiển nhiên, chiếu theo Công ước quốc tế về luật biển (Công ước). Tuy nhiên, phán quyết rằng một số trong các thực thể địa lý này là bãi lúc nổi lúc chìm sẽ phương hại đến đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam đối với chúng, ảnh hưởng cả đến một số thực thể Việt Nam đang đóng giữ như đá Tốc Tan, đá Núi Le, đá Tiên Nữ (sẽ phân tích sau). Tất cả các thực thể này nằm trong khoảng cách 200 hải lý, tính từ đường cơ sở của Philippines. 

Theo PCA, Trung Quốc đã: Can thiệp vào việc thăm dò dầu khí của Philippines tại Bãi Cỏ Rong; Chủ ý cấm các tàu Philippines đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines tại bãi Vành Khăn và bãi Cỏ Mây, bảo vệ cho và không ngăn ngừa ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá tại các nơi này; Xây dựng các công trình và đảo nhân tạo tại Vành Khăn mà không được sự đồng ý của Philippines. Do vậy PCA kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Philippines đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước này. Kết luận này trái với tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

PCA kết luận rằng, tất cả các cấu trúc nổi tại Trường Sa (Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc, Trường Sa, Song Tử Đông, Song Tử Tây…) đều là “đảo đá” về mặt pháp lý và không tạo ra EEZ hoặc thềm lục địa. Phán quyết này có phần không lợi cho Việt Nam, trong trường hợp Việt Nam đòi hỏi các đảo Việt Nam đang đóng giữ như Trường Sa, Song Tử Tây, Sinh Tồn… phải có EEZ. Nhưng đồng thời, Trung Quốc (và Đài Loan Trung Quốc) cũng không thể dùng 200 hải lý EEZ quanh đảo Ba Bình mà họ cho là có chủ quyền để tạo nên vùng tranh chấp với EEZ và thềm lục địa tính từ đường cơ sở bờ biển Việt Nam nữa. Các vùng biển tranh chấp bị thu hẹp về phạm vi 12 hải lý quanh mỗi đảo đá tại Trường Sa. 

Có một phán quyết không hoàn toàn có lợi cho Philippines, đó là: “Tòa Trọng tài cũng kết luận rằng Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất”. Tuy nhiều phán quyết của PCA gián tiếp đưa đến suy luận rằng phần lớn khu vực quần đảo Trường Sa nằm trong phạm vi EEZ của Philippines, có lợi cho Philippines, nhưng phán quyết nói trên của PCA khiến Philippines không thể quy gần như toàn bộ quần đảo Trường Sa thành một thể thống nhất mà họ gọi là Nhóm đảo Kalayaan, chỉ có thể đòi chủ quyền đối với từng thực thể địa lý ở đây.



Bản đồ tranh chấp tại khu vực quần đảo Trường Sa (8 điểm đỏ góc dưới bên trái ảnh là khu vực thềm lục địa Việt Nam, có các Nhà giàn DK1 trên các bãi cạn Phúc Tần, Huyền Trân, Tư Chính..., hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam)

Cùng với việc đánh giá các phán quyết của PCA, cần quan tâm đến các lập luận của PCA để dẫn đến các phán quyết ấy.

Khi xem xét hồ sơ lịch sử để xác định Trung Quốc có quyền lịch sử đối với tài nguyên ở Biển Đông trước khi Công ước có hiệu lực hay không, PCA lưu ý rằng có chứng cứ cho thấy người đi biển và ngư dân của Trung Quốc, cũng như của các nước khác, trong lịch sử đã sử dụng các đảo ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tòa quyết định là trước khi có Công ước, các vùng biển ở Biển Đông bên ngoài vùng lãnh hải về pháp lý đều là một phần của vùng biển quốc tế, tại đó tàu thuyền của bất kỳ quốc gia nào đều có thể qua lại và đánh cá một cách tự do. Vì vậy, Tòa đã kết luận rằng việc Trung Quốc qua lại và đánh cá trong lịch sử ở vùng biển của Biển Đông đã thể hiện các quyền tự do trên biển cả, thay vì một quyền lịch sử, và rằng không có chứng cứ nào cho thấy rằng trong lịch sử Trung Quốc đã một mình thực hiện việc kiểm soát các vùng biển ở Biển Đông hay ngăn cản các quốc gia khác khai thác những tài nguyên của mình.PCA có lập luận như vậy khi xem xét các hồ sơ của Việt Nam?

Theo Điều 121 của Công ước, các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và có thềm lục địa. PCA giải thích Điều 121 và kết luận rằng các quyền có vùng biển của một cấu trúc phụ thuộc vào: Năng lực khách quan của cấu trúc; Trong điều kiện tự nhiên, nó có thể duy trì một cộng đồng dân cư ổn định hoặc hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào tài nguyên bên ngoài, và cũng không thuần túy mang tính chất khai thác. PCA thấy rằng nhiều cấu trúc tại Trường Sa hiện đang được một hoặc nhiều quốc gia kiểm soát và họ đã xây dựng các cấu trúc và duy trì nhân lực tại chỗ. PCA kết luận rằng việc hiện diện của các nhân viên công quyền trên nhiều cấu trúc không chứng minh được khả năng của các cấu trúc này, trong điều kiện tự nhiên, để duy trì cộng đồng cư dân ổn định và cho rằng các bằng chứng lịch sử về việc định cư hoặc đời sống kinh tế có ý nghĩa hơn đối với năng lực khách quan của các cấu trúc. Qua đánh giá hồ sơ lịch sử, PCA thấy rằng các đảo Trường Sa trong lịch sử từng được các nhóm nhỏ ngư dân từ nhiều nước sử dụng, một số công ty khai thác phân chim và đánh cá của Nhật đã có hoạt động tại đây vào những năm 1920 và 1930. PCA kết luận rằng, việc sử dụng tạm thời các cấu trúc của ngư dân không dẫn đến việc cư ngụ của một cộng đồng ổn định và tất cả các hoạt động kinh tế trong lịch sử đều chỉ có tính chất khai thác. Theo đó, PCA kết luận rằng tất các cấu trúc nổi tại quần đảo Trường Sa đều là “đảo đá” về mặt pháp lý và không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa. Việt Nam cần nghiên cứu kỹ lập luận này của PCA, trong hành trình đòi công nhận chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa.

Xem xét quyền đánh cá truyền thống tại bãi Scarborough, PCA kết luận rằng ngư dân từ Philippines, cũng như Trung Quốc và các nước khác, đã đánh cá tại bãi Scarborough từ lâu và có quyền đánh cá truyền thống tại khu vực này. Do bãi cạn Scarborough nổi trên mặt nước lúc thủy triều lên, cấu trúc này có quyền có lãnh hải, vùng nước xung quanh cấu trúc này không tạo thành vùng đặc quyền kinh tế và quyền đánh cá truyền thống không bị mất đi do Công ước. Tòa xác định rằng Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Philippines khi ngăn chặn tiếp cận bãi cạnScarborough sau tháng 5 năm 2012. Tuy nhiên, Tòa Trọng tài thấy rằng Tòa cũng sẽ có kết luận tương tự đối với quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Trung Quốc nếu Philippines có hành động ngăn cản việc đánh cá của công dân Trung Quốc tại bãi Scarborough. Với phán quyết trên của PCA, Trung Quốc có cớ lưu đội tàu tại Scarborough và nhiều bãi đá khác tại quần đảo Trường Sa, tiền đề để không chế, kiểm soát những bãi đá đó.

PCA đã khẳng định, “Toà không phán quyết các vấn đề nào liên quan đến chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đất liền và không tiến hành phân định bất kỳ một ranh giới trên biển nào giữa các bên của vụ kiện”. Phán quyết ngày 12/7/2016 của PCA chưa giải quyết được những mâu thuẫn, tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Việc Trung Quốc không tham gia vụ kiện, phản bác toàn bộ phán quyết của PCA cho thấy vũ khí pháp lý có tác dụng không nhiều trong việc bảo vệ chủ quyền của các quốc gia. Như facebooker Tâm Minh Nguyễn nói, giá trị cao nhất của một phán quyết của PCA chỉ là làm mất uy tín của một quốc gia đã vi phạm chính những điều ước quốc tế mà họ ký kết, tạo dư luận đồng thuận của quốc tế đối với quốc gia bị xâm phạm chủ quyền biển đảo.

Việt Nam có thể sử dụng kinh nghiệm của Philippines tại vụ kiện vừa qua trong đấu tranh đòi công nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Dùng con đường pháp lý để đòi chủ quyền biển, đảo là cần thiết, nhưng cần hết sức thận trọng. Cửa thắng không chắc chắn, nhưng có thắng cũng khó giành lại chủ quyền thực tế, nếu trong tay chỉ có những phán quyết như của PCA.

***

 Bài của bác Thiềm Thừ, dẫn về từ đây http://thiemthu62.blogspot.com/2016/07/phan-quyet-cua-pca-va-he-luy-voi-viet.html

***

Thông não xong rồi, giờ đến thông đýt:))

VÌ SAO VIỆT NAM KHÔNG KIỆN?
(Copy từ trang của Lão AQ)

Sau phán quyết của Tòa Thường trực Liên Hiệp Quốc (PCA) về “đường lưỡi bò”, Thông tấn xã Vỉa hè phỏng vấn giáo sĩ - tiến sư Lão AQ.

* Hỏi: Thưa Lão AQ, giá trị lớn nhất trong phán quyết của PCA là gì?

Trả lời: Quan trọng nhất là PCA bác bỏ cái gọi là “đường chín đoạn - nine dots line” mà chúng ta quen gọi là “đường lưỡi bò” do Trung Quốc (TQ) tự vẽ ra và yêu sách chủ quyền.

Cần nói thêm vì sao gọi là “lưỡi bò” mà không phải là “lưỡi heo” hay “lưỡi gà”, ấy là vì hình thù diện tích TQ trên bản đồ trông như cái đầu bò, còn cái phần trên biển họ vẽ ra nhìn giống cái lưỡi con bò liếm xuống biển Đông (TQ gọi là Nam Hải) nên người ta hình dung đó là “đường lưỡi bò”.

Theo PCA, “đường chín đoạn” là vô giá trị đối với nguyên đơn Philippines (PLP), đồng nghĩa rằng đối với các quốc gia khác có cùng tranh chấp như Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei…, “đường lưỡi bò” cũng vô giá trị nốt!

* Hỏi: Như vậy, trên cơ sở phán quyết của PCA, các quốc gia tranh chấp có thể khởi kiện TQ ra tòa quốc tế để đòi chủ quyền hay không?

Trả lời: Rất nhiều người hiểu sai cái này. Thẩm quyền và cơ chế của PCA là không phán quyết về quyền chủ quyền (sovereignty) và quyền tài phán (jurisdiction) mà chỉ phán quyết về tính pháp lý, tức họ không thừa nhận hay bác bỏ một thực thể nào đó trên biển thuộc về quốc gia hay vùng lãnh thổ nào mà chỉ phán quyết về tính pháp lý, tính lịch sử liên quan đến sự tồn tại của thực thể đó. PLP kiện TQ là kiện cái sự vô lý của “đường chín đoạn” chứ họ không kiện đòi chủ quyền.

“Đường chín đoạn” do TQ vẽ ra “liếm" tới 80% chủ quyền biển của PLP, trong đó có bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham. Thế nên, lẽ dĩ nhiên, khi PCA tuyên bố “đường chín đoạn” không có cơ sở pháp lý để tồn tại tức là gián tiếp hiểu rằng bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham thuộc về Manila chứ không phải Bắc Kinh. Phán quyết của PCA giải thích các bãi cạn, đá ngầm nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone - EEZ) của nước nào và không chồng lấn thì đương nhiên thuộc chủ quyền của nước đó. Nghĩa là, bãi cạn Scarborough do TQ chiếm giữ, Cỏ Mây (Second Thomas) do PLP chiếm giữ nằm trong EEZ 200 hải lý là của PLP.


Đó là thắng lợi kép của PLP mà các quốc gia khác có cùng “thân phận kèo dưới” như Việt Nam cũng được hưởng lây.

* Hỏi: Vậy tại sao Việt Nam không kiện TQ ra PCA để có những lợi ích tương tự, thưa Lão AQ?

Trả lời: Đây là câu hỏi mấu chốt của bài phỏng vấn này. Thực tế thì có hàng triệu người Việt Nam đã đặt ra câu hỏi ấy. Suy theo logic, PLP “thắng” thì Việt Nam cũng có thể “thắng”.
Nhưng theo tính toán kỹ của riêng Lão AQ, Việt Nam không kiện thì có lợi hơn là kiện, nhất là sau khi PCA đã ra phán quyết về vụ kiện của PLP, vì những lý do sau đây:

Một là, phán quyết của PCA ngoài việc bác bỏ “đường chín đoạn” đã kết luận đích danh rằng TQ đã gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường biển Đông, việc TQ xây dựng các thực thể nhân tạo ở biển Đông là trái phép, ngoài ra họ còn sai trái khi cản trở hoạt động đánh bắt hải sản hợp pháp của ngư dân PLP… Như vậy, về bình diện pháp lý quốc tế, TQ đã thua trắng rồi, chúng ta không cần tốn công để PCA tái khẳng định sự sai trái của TQ.

Hai là, phán quyết của PCA khẳng định các thực thể trên vùng biển tranh chấp không phải là “đảo” (island) mà chỉ là rock hay reef, shoal… (đá, rặng ngầm, bãi cạn…). Theo PCA thì các thực thể ấy không có khả năng duy trì đời sống con người ở đó (no/less capability of sustaining economic life/human inhibition) nên không thể gọi là “đảo”, vậy tức là quần đảo Trường Sa với 33 điểm đảo/đá/bãi đá… mà chúng ta đang chiếm phần lớn cũng không được công nhận là “đảo”, hay quần đảo Hoàng Sa mà chúng ta tuyên bố chủ quyền thì cũng thế.

Khi không được công nhận là “đảo” đúng nghĩa thì không có EEZ 200 hải lý tính từ đường cơ sở của đảo đó mà chỉ có vùng lãnh hải 12 hải lý (xem hình minh họa phân định các vùng). Việt Nam chúng ta xưa nay được Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS) công nhận vùng EEZ 200 hải lý tính từ đường cơ sở sát đất liền trở ra vùng biển hướng Đông rồi, chúng ta không theo đuổi đòi hỏi EEZ 200 hải lý tính từ đường cơ sở của các quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa.


Nay PCA phán quyết như thế, mình không đòi thì không sao, còn nếu đòi, biết đâu sẽ bất lợi hơn (cái này các bạn nhìn hiện trạng Hoàng Sa/Trường Sa mà tự suy, Lão AQ chưa thể nói được). Tốt nhất là im lặng.

Còn TQ, họ cưỡng chiếm Hoàng Sa của chúng ta từ 1974 và dù UNCLOS 1982 đã quy định rõ các thực thể trên biển chỉ có quyền với 12 hải lý, không có EEZ 200 hải lý như quốc gia quần đảo thế nhưng TQ vẫn cứ theo đòi EEZ 200 hải lý tính từ các điểm/đảo họ đang chiếm giữ. Âm mưu của họ là tạo ra các vùng biển chồng lấn với Việt Nam và các quốc gia khác càng rộng càng tốt. Nên nhớ, họ luôn muốn biến cái không có tranh chấp thành có tranh chấp để rồi sau đó dùng vũ lực cưỡng chiếm. Hoàng Sa 1974 và Scarborough 2012 là những minh chứng cho dã tâm của họ.

Do vậy, phán quyết của PCA đã chặn đứng âm mưu đòi mở rộng EEZ từ các điểm/đảo đang chiếm giữ của TQ, là một cú tát vào tham vọng bành trướng của nước này.

Ba là, khi tuyên bố “đường chín đoạn” không có giá trị pháp lý, nếu chỉ tính riêng vùng EEZ 200 hải lý và tiếp theo đó là thềm lục địa thì với lợi thế đường biển trải dài hơn 3.000 km, Việt Nam chúng ta là nước được lợi nhất rồi. Và cũng với phán quyết đó, TQ không còn cơ sở để mở rộng các vùng biển chồng lấn/tranh chấp nên khó mà đem biển của ta đi chào mời khai thác dầu khí hay can thiệp vào hoạt động khai thác ngư nghiệp/dầu khí của chúng ta và các đối tác, trừ phi họ đạp lên tất cả để làm điều đó.

Vì ba lý lẽ trên, chúng ta không nhất thiết phải kiện TQ ra PCA làm gì, cho dù chúng ta có đủ cơ sở pháp lý để kiện.

* Hỏi: Thì ra là vậy, giải thích của giáo sĩ - tiến sư đã giải tỏa phần nào sự sốt ruột của nhiều người. Việc bây giờ chúng ta nên làm là gì?

Trả lời: Đừng có tham! Cố giữ cho được những gì mình đang có là tốt lắm rồi. Mình là nước bé nhưng đang được nhiều cái lợi nhất thì đừng vì sốt ruột hay tham vọng quá đà mà tính sai đường.

Chúng tôi muốn nhắn gửi thông điệp quan trọng: Toàn dân hãy yên tâm!

* Em quá thỏa mãn rồi. Xin cảm ơn giáo sĩ - tiến sư!
Olá! Se você ainda não assinou, assine nosso RSS feed e receba nossas atualizações por email, ou siga nos no Twitter.
Nome: Email:

4 comments

ĐCM 22:15 Ngày 16 tháng 07 năm 2016

A lô...a lô

Reply
Thuốc Lào 13:36 Ngày 18 tháng 07 năm 2016

Đại bàng gọi trym ku, trym ku nghe rõ gật gù...

Reply
Phản Hồi 19:46 Ngày 19 tháng 07 năm 2016

Đọc phán quyết của Toà án Trọng tài Thường trực (PCA) vụ Philippines kiện Trung Quốc phải nói là lý thú, càng đọc càng tưởng như có dòng nước mát lan toả trong cơ thể. Mọi nhận định và kết luận của các thẩm phán quốc tế đều đáng học hỏi, dù ta đồng ý hay không quan điểm của họ.

Hàm lượng tri thức về luật pháp toát lên từ mỗi dòng chữ đều khiến ta thán phục và nung nấu thêm quyết tâm thay đổi nền tư pháp nước nhà, để đến một ngày không xa các toà án Việt Nam có thể tuyên những phán quyết về mọi vấn đề cũng khiến người dân và bạn bè quốc tế tâm phục như thế.

Còn bây giờ, đọc các bản án của toà án nhân dân từ cấp địa phương đến cấp cao, người ta không khỏi lắc đầu thất vọng từ văn phong, chính tả, cho đến lập luận và kết luận. Tất cả toát lên sự dốt nát đến mức ta chỉ biết bái phục và tự hỏi sao có thể ngu dốt như vậy! Vì sao có lẽ đáng buồn thế ấy? Đó là vì các nguyên nhân sau đây:

1) Toà án nhân dân chỉ là công cụ xét xử của đảng cầm quyền.

2) Phải là đảng viên cộng sản mới được bổ nhiệm và giữ ghế thẩm phán.

3) Tư duy của Chủ nghĩa Marx-Lenin chỉ xem pháp luật là công cụ cai trị, chứ không nhằm mục đích mang đến công lý và tạo lập lẽ công bằng.

4) Chương trình dạy luật ở bậc đại học vừa nghèo nàn vừa lạc hậu, với môn nền tảng là Lý luận Marx-Lenin về Nhà nước và Pháp luật, một môn học thể hiện hoàn mỹ sự bế tắc của chính Marx và Lenin trong phân tích các vấn đề kinh tế, chính trị và luật pháp.

5) Các thẩm phán chỉ biết ăn nhậu và nhận hối lộ, chứ không dành thời gian đọc sách và nghiên cứu hầu có thể trau dồi chuyên môn thường xuyên.

6) Trong các vụ án và vụ kiện, người ta có thể mua bản án dễ dàng, ai trả giá cao thì thắng kiện, biến pháp đình thành chợ đấu giá không hơn không kém; còn thẩm phán chỉ là bọn quản lý chợ nát rượu, ngồi chờ con mồi đến để đập chết ăn thịt.

Tóm lại, phải xoá bỏ chế độ cộng sản mới mong một ngày nào đó trên nước Việt Nam này có những thẩm phán lỗi lạc giữa một nền tư pháp đáng kính trọng và tin cậy.

(Luật sư Lê Công Định)

Reply
Thuốc Lào 10:54 Ngày 20 tháng 07 năm 2016

Mừng cho cái nhà anh Phẹt Liệt đã có truyền nhân bưng bô. Hôhô.

Reply

Đăng nhận xét

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang